Tiếng Việt hải ngoại, khởi đi từ một khái niệm…

Nguyễn Văn Khoa

Sau 1975, người Việt định cư tại hải ngoại mỗi ngày thêm nhiều. Những lớp người tị nạn ở giai đoạn đầu chỉ mang theo những ký ức, ngôn ngữ và văn hoá để khởi sự cho một cuộc sống mới. Ngôn ngữ không chỉ để duy trì tiếng nói trong lớp tuổi của họ mà còn là một ước vọng, sao cho con cái gìn giữ được ngôn ngữ, làm căn bản như là một người Việt Nam.

Chúng ta biết, ngôn ngữ luôn đi trước để hình thành ra văn hoá. Ngôn ngữ là chìa khoá mở cánh cửa văn hoá của một dân tộc. Khi ngôn ngữ được sử dụng một cách trong sáng sẽ tạo ra một dân tộc có văn hoá đẹp, có 1 nền văn minh riêng và thể hiện sự hài hoà của xã hội. Ngôn ngữ trong sáng dẫn đưa dân tộc đến sự hùng mạnh, quốc gia phú cường, độc lập, tự chủ và mọi người dân sống thêm hạnh phúc.

Từ khái niệm này, người Việt hải ngoại dùng hết nỗ lực thúc đẩy chương trình giảng dạy Việt Ngữ trong con em: Ở Úc Châu, được nền giáo dục đa ngôn ngữ và văn hoá đãi ngộ, nên các chương trình dạy tiếng Việt phát triển mạnh mẽ. Có trường lên 2000 học sinh. Tại Âu Châu cũng có các trường Việt Ngữ, không lớn nhưng cũng khá phổ biến. Tại Á Châu như Thái Lan, Phi Luật Tân cũng có các nơi dạy tiếng Việt phát xuất trong cộng đồng người Việt. Điều thú vị là có 1 làng nhỏ Việt Nam tại Phi Châu cũng tìm cách giữ tiếng Việt trong con cháu để duy trì tiếng nói, mặc dù họ đã sống gần 100 năm, qua hằng hai, ba thế hệ.

Tại Mỹ Châu, gồm Canada và Hoa Kỳ, các lớp tiếng Việt đã hình thành rất lâu, lâu bằng tuổi với thời gian định cư của cha ông đi trước. Thời gian qua, rải rác đây đó có nhiều ngôi trường tổ chức lễ kỷ niệm thành lập 20 năm, thành lập 25 năm, thành lập 30 năm và ngay cả kỷ niệm thành lập 35 năm. Hơn một thế hệ đã qua, hơn hai thế hệ trẻ em đã chào đời, nhưng ngôn ngữ Việt vẫn không ngừng lớn mạnh, luôn đi theo với sức sống của tuổi trẻ. Khi bạn đọc những dòng chữ này, bạn cũng nghe nói hoặc đã tham dự chương trình Huấn Luyện và Tu Nghiệp Sư Phạm tại Nam California lần thứ 30 do Ban Đại Diện Các Trung Tâm Việt Ngữ Nam California tổ chức, cũng tại đại học nơi tổ chức Hội Nghị Thống Nhất Chính Tả Tiếng Việt này.

Bài NVK H1


(Hình sinh hoạt của các em học sinh các lớp lớn, thuộc Trường Việt Ngữ Đức Mẹ La Vang Arlinton TX, người đứng thứ 3 của hàng thứ 2 tính từ trái, mặc áo xanh là cô giáo Đào Thy)

Các tiểu bang nhiều người Việt như Denver Colorado, hơn 10 năm trước, có một giáo xứ công giáo đã xây dựng 1 ngôi thánh đường và đặt tên là Trường Giáo Lý Việt Ngữ Thánh Da-minh Savio với 29 phòng học, để dạy giáo lý và Việt Ngữ cho gần 1000 học sinh. Rồi tiếp theo các nơi tại Texas như Trường Việt Ngữ Đức Mẹ La Vang Arlinton TX, cũng trên 1000 học sinh , tại Portland Oregon, tại Seattle Washington cũng có những ngôi trường có sĩ số học sinh tương tự.

Bài NVK H2


(Giờ sinh hoạt của các em học sinh Trường Giáo Lý Việt Ngữ Thánh Da-minh Savio, Denver CO, trường với trên 1000 học sinh)

Tại California, người Việt sống ở hải ngoại là đông đảo hơn cả. Miền Bắc và miền Nam California có đến trên 100 ngôi trường, hoặc trung tâm dạy tiếng Việt lớn nhỏ. Có trường sĩ số học sinh lên trên 1000, như tại trường Văn Lang San Jose. Nam California có 2 trường lớn như Trung Tâm Văn Hoá Việt Nam với công đầu là thầy Huỳnh Phổ, Trung Tâm Văn Hoá Hồng Bàng với nỗ lực không ngừng của cô Huỳnh Thị Ngọc, mỗi trường có trên dưới 800 học sinh. Một ngôi trường nhỏ nhưng có nhiều học sinh xuất sắc là trường Việt Ngữ Gia Đình Tự Lực của cô hiệu trưởng Trần LyLy. Cả Bắc và Nam California có đến trên 1500 thấy cô tình nguyện giảng dạy Tiếng Việt mỗi cuối tuần, cho trên 20 ngàn học sinh các cấp, được cha mẹ mang đến hằng cuối tuần. Mới đây, tại thành phố Garden Grove của Hội Thánh Tin Lành Garden Grove đã mở 1 trường Việt Ngữ mới, lấy tên là Mục Vụ Việt Ngữ Garden Grove, hiệu trưởng là cô Huỳnh Trâm Anh.

Bài NVK H3


(Khai giảng trường Mục Vụ Việt Ngữ Garden Grove 2017 – Cô Hiệu Trưởng Huỳnh Trâm Anh mặc áo dài màu vàng, đứng bên phải)

Ngoại trừ phụ huynh có con em đi học tại các ngôi chùa, chứ có bao nhiêu người biết là tại các ngôi chùa này, bên cạnh khung cảnh trang nghiêm, khói hương nghi ngút của chùa, lại còn có các lớp Việt Ngữ để dạy cho con cháu phật tử, từ năm này qua năm khác!

Có lẽ ngôi chùa đầu tiên mở lớp Việt Ngữ vùng Nam California là năm 1976, Chùa Việt Nam của cố Hoà Thượng Thích Thiên Ân và cố Hoà Thượng Thích Mãn Giác. Thời gian đó Liên Đoàn Trưởng Gia Đình Phật Tử Long Hoa là thầy Ngô Văn Quy đảm trách hiệu trưởng Việt Ngữ của ngôi chùa này, rồi chùa Anoma thuộc chùa Bảo Tịnh Gardena với sự tham gia tích cực của các thầy Nguyễn Hữu Hoà, Nguyễn Tư Nhân, TVN/GĐPT Kỳ Viên có thời thầy Nguyễn Văn Vui làm hiệu trưởng, TVN/GĐPT Pháp Vân, TVN/GĐPT Chánh Kiến, TVN/GĐPT Bát Nhã, TVN/GĐPT Chánh Đạo, TVN/GĐPT Chánh Pháp, TVN/GĐPT Chân Nguyên, rồi tới trường TVN/GĐPT Gotama có thời cô Thanh Mai làm hiệu trưởng, TVN/GĐPT Hoa Nghiêm v.v… kể không hết.

Trường Việt Ngữ chùa Huệ Quang của Hoà Thượng Thích Minh Mẫn với sự chăm sóc tận tình của thầy hiệu trưởng Hồ Văn Quỳnh, một ngôi trường mà tôi nhớ mãi với lòng cảm phục, vì thầy Quỳnh luôn nhắc các em, hãy giữ truyền thống người Việt quốc gia, trong đội ngũ chỉnh tề nghiêm chỉnh chào cờ hằng tuần, trước giờ vào lớp. Thầy hiệu trưởng Hồ Văn Quỳnh tâm sự: “Từ lúc khởi đầu với vài chục em, đến nay (thời điểm của 18 năm về trước) vẫn luôn duy trì được con số đoàn sinh trên 250 em…” Điểm thứ 2 mà tôi không quên được là học cuối tuần là các em học sinh lớp lớn phải cùng với thầy cô dựng các tấm bạt để che nắng mưa. Giờ học xong, các em lại tháo các lều bạt xuống cất vào nhà kho của chùa. Nếu tôi nhớ không lầm, ngôi trường này được thành lập từ năm 1984, như vậy đã hoạt động được 34 năm. Một quãng đường dài gian khổ cho các thầy cô thiện nguyện.  

Bài NVK H4


(Giờ học tập của học sinh Việt Ngữ Gia Đình Phật Tử Huyền Quang tại San Bernardino, thành lập bởi cố Đại Đức Thích Phổ Hoà, nguyên là Trung tá trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà)

Rồi chùa Hương Tích, chùa Hướng Thiện, chùa Khuông Việt, chùa Kỳ Viên, chùa Long Hoa, chùa Phổ Đà, chùa Pháp Vân, chùa Quang Thiện, chùa Trúc Lâm, chùa Viên Thông, chùa Phật Tổ, chùa Huyền Quang nơi đâu có chùa là nơi đó có lóp Việt Ngữ. Trường Việt Ngữ của chùa Liên Hoa của Hoà Thượng Thích Chơn Thành với cô hiệu trưởng Cao Ngọc Điệp, trường Việt Ngữ Hùng Vương của Hoà Thượng Thích Quảng Thanh, trường Việt Ngữ chùa Điều Ngự của Hoà Thượng Thích Viên Lý với thầy hiệu trưởng Nguyễn Lành, và thầy nguyên hiệu trưởng Đặng Ngọc Sinh v.v… mỗi ngôi chùa đầy ắp những kỷ niệm đẹp, khó quên.

Ở ngoài tiểu bang California cũng có khá nhiều ngôi chùa với các trường Việt Ngữ mặc dù không lớn, nhưng lại rất lớn về ý chí phần đấu để tạo cơ hội cho thế hệ sau gìn giữ được tiếng mẹ đẻ. Các tiểu bang TX thì có chùa Linh Son, Chùa Phật Quang, Chùa Việt Nam, Minisota thì có chùa Quang Minh, v.v…

Một mái trường dưới sự bảo trợ của Giáo Hội Cao Đài là trường Việt Ngữ Minh Đức do thầy Ngô Thiện Đức làm hiệu trưởng cũng cho thấy sự đóng góp cũng như vai trò của các tôn giáo thật quan trọng và là những hạt giống tốt lành triển nở ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam tại hải ngoại.

Bài NVK H5


(hình ảnh vui mừng trong ngày khánh thành trụ sở của Giáo Hội Cao Đài với các học sinh trường Việt Ngữ Minh Đức tại thành phố Westminster CA)

Chúng ta còn phải kể đến nhiều chục ngôi trường lớn nhỏ trong vùng Nam CA, thuộc giáo hội Công Giáo như Trường Việt Ngữ Phan Bội Châu của cộng đoàn Anaheim, TVN Nguyễn Bá Tòng của nhà thờ Saint Barbara, TVN Kitô Vua của cộng đoàn Saint Columban, TVN Costa Mesa, TVN La Vang của cộng đoàn Đức Mẹ La Vang, TVN Dũng Lạc của cộng đoàn Huntington Beach, TVN Vinh Sơn Liêm của cộng đoàn Orange, TVN Saint Policarp, TVN Tam Biên, TVN Thánh Linh, TVN Khiết Tâm, TVN Tustin, TVN Westminster, TVN Saddleback, TVN Maria Nữ Vương Gardena, TVN La Vang Reseda, TVN Lộ Đức Burbank, TVN Thánh Pherô Norwalk, TVN Thánh Pherô Torrance, TVN Phục Sinh San Gabriel, TVN Mông Triệu Arcadia, TVN Nữ Vương Các Thiên Thần, TVN Vista Oceanside, TVN Chúa Cứu Thế Long Beach… kể không hết. Giáo hội Tin Lành cũng có trên 10 ngôi trường lớn nhỏ rải rác khắp vùng Nam California nữa. Đặc biệt trường Việt Ngữ Tin Lành của Hội Thánh Tin Lành Midway City Nam CA, do Mục Sư Văn Đài quản nhiệm, một vị mục sư đáng kính không ngừng nâng đỡ, tiếp sức với Ban Đại Diện các Trung Tâm Việt Ngữ Nam California, hằng năm dành nguyên cả hội trường lớn, các lớp học để tổ chức cuộc thi Chính Tả Viết Văn cho hằng trăm học sinh các trường Việt ngữ trong vùng.

Không dừng tại đây, Hoa kỳ, ngoài các lớp dạy Việt Ngữ ở các trung tâm vào cuối tuần, với khoảng 2 giờ học, đã là 1 cố gắng của phụ huynh và cũng là sự đóng góp kiên trì, âm thầm như mạch nước ngầm của các thầy cô giảng dạy. Bên cạnh đó, vẫn có một sức sống khác, đang trong chiều hướng trỗi dậy khá hào hứng. Đó là các lớp Việt Ngữ trong dòng chính của hệ thống giáo dục Hoa kỳ.

Các đại học lớn tại Hoa Kỳ như University of Washington, University of Florida, University of Michigan, Arizona State University, Columbia University, Cornell University, Yale University, Havard University và trong tiểu bang California như UC Berkeley, UC Los Angeles, UC Irvine, UC Riverside, CSU Fullerton, Coastline Community College, Golden West College, Orange Coast College, … Và ở cấp trung học như tại học khu East Side Union High School District vùng San Jose, các trường Westminster High School và La Quinta HS của học khu Westminster, Bolsa Grande HS và Pacifica HS của học khu Garden Grove v.v… đều có lớp Tiếng Việt như là những lớp ngoại ngữ chính thức trong hệ thống giáo dục công lập.

Một chương trình mới hơn cả, tại học khu Westminster trong 3 năm vừa qua, đã mở ra 1 lớp học song ngữ ở cấp tiểu học. Có nghĩa là các em học sinh ghi danh lớp này, khi bước chân đầu đời đi vào ngưỡng cửa học đường, sẽ được nghe, được viết, được nói, được đọc bằng 2 ngôn ngữ Anh Việt trong giờ học (English/Vietnamese Dual Language Immersion Program). Đây là 1 chương trình song ngữ đầu tiên được mở ra, giảng dạy thử nghiệm tại California. Năm thứ ba (2018) của chương trình này đã đưa đến sự thành công rõ nét với 160 học sinh. Tháng 9, 2018 cho niên học mới này sẽ có thêm 4 lớp cấp mẫu giáo, và 3 lớp mẫu giáo sẽ thành 3 lớp cấp 1, rồi tương tự nâng lên 2 lớp cấp 2, 2 lớp cấp 3. Cô giáo đầu tiên tham gia chương trình của năm đầu 2015, phụ trách lớp mẫu giáo tại trường DeMille Elementary là cô giáo Đặng Quỳnh Hương, tiếp theo là cô giáo Vũ Quỳnh Trâm tất cả đều tốt nghiệp cao học ngành giáo dục Hoa Kỳ. Từ 40 học sinh của năm đầu, đến niên học tháng 9 tới, số ghi danh của học sinh sẽ lên 240 em. Đây là dấu hiệu rất tốt, nói lên giá trị của chương trình và là niềm tin tưởng đặc biệt mà phụ huynh đã dành cho chương trình này. Chúng ta cũng nên có 1 lời cám ơn đến bà Hiệu trưởng Shannon Villanueva của DeMille Elementary school và TS Renae Bryant Giám đốc điều hành chương trình song ngữ của học khu Westminster trước đây, đã luôn tìm cách thúc đẩy chương trình song ngữ Anh/ Việt để mỗi ngày tiến xa và đưa đến sự thành công đáng ca ngợi trong học khu Westminster.

Bài NVK H6


(Trình diễn văn nghệ hào hứng của học sinh tiểu học Demille Westminster, CA theo học chương trình English/Vietnamese Dual Language Immersion)

Nối gót chương trình English/Vietnamese Dual Language Immersion tại học khu Westminster, thì học khu Garden Grove cũng đã bắt đầu 1 chương trình tương tự vào đầu niên khoá 2017-18. Và đến giờ này học khu Garden Grove đã là học khu lớn, có các lớp Việt Ngữ các trường trung tiểu học nhiều hơn cả. Tại học khu Anaheim, khi TS Renae Bryant về nhận công việc mới trong học khu, 1 kế hoạch phát triển chương trình dạy tiếng Việt các cấp cũng đang được học khu khai triển.

Những năm gần đây, tại đại học Cal State University, Fullerton (National Resource Center for Asian Languages – NRCAL) điều hành bởi TS Natalie Trần còn lập ra 1 chương trình đào tạo các giáo viên dạy tiếng Việt nhằm cung cấp cho nhu cầu giảng dạy tiếng Việt cấp tiểu học, trung học các nơi.

Nhìn vào chiều hướng phát triển như thế, chúng ta thấy việc soạn thảo sách giáo khoa, sách nghiên cứu đã là 1 nhu cầu rất lớn nhằm cung cấp cho thầy cô, sinh viên học sinh và phu huynh.

Bài NVK H7


(http://www.fullerton.edu/nrcal/ by Dr. Natalie Trần)

Hiện, Ban Đại Diện Các Trung Tâm Việt Ngữ đã có 1 bộ sách giáo khoa 8 cuốn được trên 300 ngôi trường trên Hoa Kỳ dùng dạy trong các lớp học trong cộng đồng Việt Nam vào mỗi cuối tuần. Bộ sách này cũng đang được các thầy cô học khu Westminster và Anaheim sẽ dùng trong các lớp dạy song ngữ. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần có thêm những bộ sách giáo khoa khác, bổ túc những ứng dụng phương pháp mới của bộ giáo dục California đề ra, như phương pháp Common Core chẳng hạn.

Bài NVK H8


(Bộ sách Giáo Khoa Việt Ngữ và Lịch Sử Bằng Tranh do Ban Đại Diện Các Trung Tâm Việt Ngữ Nam CA biên soạn/ hiệu đính và phát hành)

Một nhu cầu khác được đặt ra là các sách tham khảo, sách tài liệu về Chính Tả, Ngữ Vựng, Từ Điển vẫn là 1 chỗ trống, rất thưa thớt, cần được đáp ứng. Tài liệu về Chính Tả chú trọng đến cách viết, cách để dấu cho chính xác, tương tự như tra cứu chữ trong từ điển, nhưng chúng chú trọng nhiều đến những nguyên tắc căn bản của Tiếng Việt, như vị trí đặt những dấu sắc, dấu huyền, dấu hỏi, dấu ngã, dấu nặng, dấu “â”, dấu “ă” trong một chữ, những cách dùng với mẫu tự “y” với “i”; các phụ âm ghép “ch” với “tr”; các phụ âm đầu “s” với “x” v.v… giúp chúng ta viết đúng, nói đúng tiếng Việt.

Việt Nam với trên 96 triệu dân, dùng tiếng Việt là chính. Là tiếng nói có số người dùng nhiều để trao đổi, giao dịch thương mại hằng ngày, đứng hàng thứ 15 trên hơn 100 ngôn ngữ khác trên thế giới. Những đóng góp sự hiểu biết của cộng đồng người Việt trên 3.5 triệu người hải ngoại sẽ góp phần không nhỏ cho sự phát triển ngôn ngữ Việt Nam. Tiếng Việt không còn thuần tuý dành cho con em Việt Nam mà còn đi xa hơn trong việc trao đổi giao dịch, sáng tác, truyền bá văn học nghệ thuật, cung cấp cho nhu cầu sử dụng trên bình diện quốc tế. Chính bởi thế, tiếng Việt cần được sự đồng thuận trên một số căn bản nào đó, mà việc áp dụng quy luật phiên âm quốc tế trong từ điển là một thí dụ.

Bài NVK H9B


(Sổ Tay Chính Tả Tiếng Việt gồm 3 tập, do Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt – Nhóm Soạn Từ Điển biên soạn và phát hành)

Đây là 1 nỗ lực rất lớn của Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt Nhóm Thực Hiện Từ Điển, của các đoàn thể, tổ chức văn hoá, của các thầy cô liên quan tới việc giảng dạy Việt Ngữ các nơi, của từ tổ chức Ban Đại Đại Diện Các Trung Tâm Việt Ngữ (TAVIET-LCS), cũng như của các nhà giáo dục, văn hoá, trí thức, truyền thông tại hải ngoại. Hy vọng sự đóng góp có tính cách tổng hợp này sẽ đáp lại nhu cầu cần có, góp phần cho sự phát triển ngôn ngữ trong sáng, thể hiện nét đẹp văn hoá, thêm niềm tự hào tình tự dân tộc, gìn giữ ngôn ngữ, nuôi dưỡng lịch sử oai hùng để mưu cầu hạnh phúc cho mọi người, mọi thế hệ con dân Việt.

Nguyễn Văn Khoa
-The Association of The Vietnamese Language and Culture Schools of Southern California (TAVIET-LCS) Ban Đại Diện các Trung Tâm Viêt Ngữ Nam CA
-Thành Viên Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt


Câu trong huy hiệu lày ý từ  bài diễn thuyết của Học gỉa Phạm Quỳnh sau đây:

Bài diễn thuyết bằng quốc văn của ông Phạm Quỳnh

04:12′ CH – Thứ tư, 07/12/2016

“Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn”

(Phạm Quỳnh)
Bài diễn thuyết về Truyện Kiều này được Phạm Quỳnh đọc nhân lễ kỷ niệm ngày giỗ Nguyễn Du vào ngày 8 tháng 12 năm 1924, tức ngày mồng 10 tháng 8 năm Giáp Tý do Hội Khai trí tiến đức của ông tổ chức. Bài được đăng lại tại Tạp chí Nam Phong số 86. Bài diễn thuyết này mở đầu cho một cuộc tranh cãi nổi tiếng vào đầu thế kỷ XX, được người sau mệnh danh là Vụ án truyện Kiều…

Cu-Pham-Quynh


Phạm Quỳnh (17 tháng 12 năm 1892 – 6 tháng 9 năm 1945) là một nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn và quan đại thần triều Nguyễn (Việt Nam). Ông là người đi tiên phong trong việc quảng bá chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt – thay vì chữ Nho hay tiếng Pháp – để viết lý luận, nghiên cứu. Ông có tên hiệu là Thượng Chi, bút danh: Hoa Đường, Hồng Nhân.

Ông được xem là người chiến đấu bất bạo động nhưng không khoan nhượng cho chủ quyền độc lập, tự trị của Việt Nam, cho việc khôi phục quyền hành của Triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung, Nam), chống lại sự bảo hộ của Pháp và kiên trì chủ trương chủ nghĩa quốc gia với thuyết Quân chủ lập hiến
Thưa các Ngài,
Hôm nay là ngày giỗ cụ Tiên-điền Nguyễn Tiên-sinh, là bậc đại-thi-nhân của nước Nam ta, đã làm ra bộ văn-chương tuyệt-tác là truyện Kim-Vân-Kiều.

Ban Văn-học Hội Khai-trí chúng tôi muốn nhân ngày giỗ này đặt một cuộc kỷ-niệm để nhắc lại cho quốc-dân nhớ đến công-nghiệp[1] một người đã gây-dựng cho quốc-âm ta thành văn-chương, để lại cho chúng ta một cái « hương hỏa » rất quí-báu, đời đời làm vẻ-vang cho cả giống-nòi.

Chúng tôi thiết-nghĩ một bậc có công với văn-hóa nước nhà như thế, không phải là ông tổ riêng của một nhà một họ nữa, mà là ông tổ chung của cả nước; ngày giỗ ngài không phải là ngày kỷ-niệm riêng của một nhà một họ nữa, chính là ngày kỷ-niệm chung của cả nước.

Hiện nay suốt quốc-dân ta, trên từ hàng thượng-lưu học-thức, dưới đến kẻ lam-lũ làm ăn, bất-cứ già trẻ, lớn bé, đàn ông, đàn bà, ai ai cũng biết truyện Kiều, ai ai cũng thuộc truyện Kiều, ai ai cũng kể truyện Kiều, ai ai cũng ngâm truyện Kiều, như vậy thời ai ai cũng đều hưởng cái công-nghiệp của Cụ Tiên-điền ta, ai ai cũng phải nhớ ngày giỗ Cụ và nghĩ đến cái ơn của Cụ tác-thành cho tiếng nước nhà.

Muốn cảm cái ơn ấy cho đích-đáng, hẵng thử giả-thiết Cụ Tiên-điền không xuất-thế[2], Cụ Tiên-điền có xuất-thế mà quyển truyện Kiều không xuất-thế, quyển truyện Kiều có xuất-thế mà vì cớ gì không lưu-truyền, thời tình-cảnh tiếng An-Nam đến thế nào, tình-cảnh dân-tộc ta đến thế nào?

Văn-chương người ta thiên kinh vạn quyển, dẫu có thiếu mất một quyển cũng chẳng hại gì. Văn-chương mình chỉ độc có một quyển, vừa là kinh, vừa là truyện, vừa là Thánh-thư[3] Phúc-âm[4] của cả một dân-tộc, ví lại khuyết nốt thì dân-tộc ấy đến thế nào?

Than ôi! mỗi lần nghĩ tới mà không khỏi rùng mình, chột dạ, sửng-sốt, rụng-rời, tưởng như hòn ngọc ở trên tay bỗng rơi xuống vỡ tan-tành vậy. Rồi mới tỉnh ra, sực nhớ đến mấy câu Kiều, vỗ bàn đập ghế, gõ dịp[5] rung đùi, lên giọng cao-ngâm:

Lơ-thơ tơ liễu buông mành,
Con oanh học nói trên cành mỉa-mai,

hay là:

Phong-trần mài một lưỡi gươm,
Những phường giá áo túi cơm xá gì,

bỗng thấy trong lòng vui-vẻ, trong dạ vững-vàng, muốn nhẩy muốn múa, muốn reo muốn hò, muốn ngạo-nghễ với non sông mà tự-phụ với người đời rằng: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có gì mà lo, có gì mà sợ, có điều chi nữa mà ngờ!…

Có nghĩ cho xa-xôi, cho thấm-thía, mới hiểu rằng truyện Kiều đối với vận-mệnh nước ta có một cái quí-giá vô-ngần.

Một nước không thể không có quốc-hoa, truyện Kiều là quốc-hoa của ta; một nước không thể không có quốc-túy, truyện Kiều là quốc-túy của ta; một nước không thể không có quốc-hồn, truyện Kiều là quốc hồn của ta. Truyện Kiều là cái « văn-tự »[6] của giống Việt-Nam ta đã « trước-bạ »[7] với non sông đất nước này. Trong mấy nghìn năm ta chôn rau[8] cắt rốn, gửi thịt gửi xương ở cõi đất này, mà ta vẫn hình như một giống ăn trọ ở nhờ, đối với đất nước non sông vẫn chưa từng có một cái văn-tự văn-khế phân-minh, chứng-nhận cho ta có cái quyền sở-hữu chính-đáng. Mãi đến thế-kỷ mới rồi mới có một đấng quốc-sĩ[9], vì nòi-giống, vì đồng-bào, vì tổ tiên, vì hậu-thế, rỏ máu làm mực, « tá-tả »[10] một thiên văn-khế tuyệt-bút, khiến cho giống An-Nam được công-nhiên[11], nghiễm-nhiên[12], rõ-ràng, đích-đáng làm chủ-nhân-ông một cõi sơn-hà gấm vóc.

Đấng quốc-sĩ ấy là ai? Là Cụ Tiên-điền ta vậy. Thiên văn-khế ấy là gì? Là quyển truyện Kiều ta vậy.

Gẫm trong người ấy báu này,
Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm!

Báu ấy mà lọt đến tay ta, thật cũng là một cái phúc-duyên cho ta, nhưng báu ấy ở trong tay Cụ lại chính là một cái túc duyên[13] của Cụ. Thiên văn-tự tuyệt-bút kia là gồm bao nhiêu giọt máu, bao nhiêu giọt lệ kết-tinh lại mà thành ra, những khi đêm khuya thanh-vắng vẫn thường tỉ-tê thánh-thót trong lòng ta, như

Giọt sương gieo nặng cành xuân la-đà

vậy.

Cái áng văn-chương tuyệt-tác cho người đời đó, an-tri lại không phải là một thiên lịch-sử thống-thiết của tác-giả?

Truyện Kiều quan-hệ với thân-thế Cụ Tiên-điền thế nào, lát nữa ông Trần Trọng-Kim sẽ diễn-thuyết tường để các ngài nghe.

Nay tôi chỉ muốn biểu-dương cái giá-trị của truyện Kiều đối với văn-hóa nước ta, đối với văn-học thế-giới, để trong buổi kỷ-niệm này đồng-nhân cảm biết cái công-nghiệp của bậc thi-bá nước ta lớn-lao to-tát là dường nào.

Đối với văn-hóa nước nhà, cái địa-vị truyện Kiều đã cao-quí như thế; đối với văn-học thế-giới cái địa-vị truyện Kiều thế nào?

Không thể so-sánh với văn-chương khắp các nước, ta hẵng so-sánh với văn-chương hai nước có liền-tiếp quan-hệ với ta, là văn-chương Tàu và văn-chương Pháp. Văn-chương Tàu thật là mông-mênh bát-ngát, như bể như rừng. Nhưng trong rừng văn bể sách đó, tưởng cũng ít quyển sánh được với truyện Kiều, mà xét cho kỹ có lẽ không có sách nào giống như truyện Kiều. Gốc truyện tuy do một bộ tiểu-thuyết Tàu mà ra, nhưng vào tay Cụ Tiên-điền ta biến-hóa hẳn, siêu-việt ra ngoài cả lề-lối văn-chương Tàu, đột-ngột như một ngọn cô-phong ở giữa đám quần-sơn vạn-hác vậy. Có người sánh truyện Kiều với Li-tao, nhưng Li-tao là một bài than, từ đầu đến cuối toàn một giọng bi-đát thảm-thương, so với Cung-oán của ta có lẽ đúng hơn. Có người lại sánh với Tây-xương, nhưng Tây-xương là một bản hát, từ-điệu có véo-von, thanh-âm có réo-rắt, nhưng chẳng qua là một mớ ca-từ cho bọn con hát, không phải là một nền văn-chương chân-chính. Cứ thực thì truyện Kiều dẫu là đầm-thấm cái tinh-thần của văn-hóa Tàu, dẫu là dung-hòa những tài-liệu của văn-chương Tàu, mà có một cái đặc-sắc văn-chương Tàu không có. Cái đặc sắc ấy là sự « kết-cấu ». Nhà văn, nhà thơ Tàu, ngoài những bài thơ bài văn nho-nhỏ ngăn-ngắn, phàm làm sách chỉ biết cách biên-tập, không sành cách kết-cấu. Biên-tập là cóp-nhặt mà đặt liền lại; kết-cấu là thu-xếp mà gây-dựng lên, thế nào cho thành một cái toàn-bức các bộ-phận điều-hòa thích-hợp với nhau, không thêm bớt được chút nào. Truyện Kiều là một cái toàn-bức như thế, mà là một bức tranh thế-thái nhân-tình vẽ sự đời như cái gương tầy liếp vậy.

Xét về cách kết-cấu thì văn-chương nước Pháp lại là sở-trường lắm. Cho nên truyện Kiều có thể sánh với những áng thi-văn kiệt-tác của quí-quốc, như một bài bi-kịch của Racine hay một bài văn tế của Bossuet vậy. Đó là nói về cái thể-tài văn-chương. Còn về đường tinh-thần thời trong văn-học Pháp có hai cái tinh-thần khác nhau, là tinh-thần cổ-điển và tinh-thần lãng-mạn. Tinh-thần cổ-điển là trọng sự lề-lối, sự phép-tắc; tinh-thần lãng-mạn là trong sự khoáng-đãng, sự li-kỳ. Truyện Kiều gồm được cả hai cái tinh-thần ấy, vì vừa có cái đạo-vị thâm-trầm của Phật-học, vừa có cái nghĩa-lý sáng-sủa của Nho-học, vừa có cái phong-thú tiêu-dao của Trang Lão, lấy lẽ phải ông Khổng mà chế lại sự thần-bí của nhà chùa, sự khoáng-dật của hai họ. Nhưng mà ngay trong văn-chương nước Pháp tưởng cũng không có sách nào giống hẳn như truyện Kiều, vì truyện Kiều có một cái đặc-sắc mà những nền kiệt-tác trong văn-chương Pháp không có. Đặc-sắc ấy là sự « phổ-thông ». Phàm đại-văn-chương, không những ở nước Pháp, ở nước nào cũng vậy, chỉ có những người thượng-lưu học-thức mới thưởng-giám được, kẻ bình-dân không biết tới. Người Pháp không phải là ai ai cũng biết đọc kịch Racine hay là đọc văn Bossuet. Người Nam thời ai ai cũng biết ngâm Kiều, kể Kiều, « lẩy » Kiều để ứng-dụng trong sự ngôn-ngữ thường, kẻ thông-minh hiểu cách thâm-trầm, kẻ tầm-thường hiểu cách thô-thiển, nhưng ngâm-nga lên thảy đều lấy làm vui tai, sướng miệng, khoái trí, tỉnh hồn.

Thử hỏi cổ kim Đông Tây đã có một áng văn-chương nào cảm người được sâu và được rộng như thế chưa. Tưởng dễ chỉ có một truyện Kiều ta là có thể tự-cao với thế-giới là văn-chương chung của cả một dân-tộc 18,20 triệu người, già, trẻ, lớn, bé, giỏi, dốt, sang, hèn, đều thuộc lòng và đều biết hay cả.

Như vậy thì truyện Kiều, không những đối với văn-hóa nước nhà, mà đối với văn-học thế-giới cũng chiếm được một địa-vị cao-quí.

Văn-chương ta chỉ có một quyển sách mà sách ấy đủ làm cho ta vẻ-vang với thiên-hạ, tưởng cũng là một cái kỳ-công có một trong cõi văn thế-giới vậy.

Cái kỳ-công ấy lại dũ-kỳ nữa là ngẫu-nhiên mà dựng ra, đột-nhiên mà khởi lên, trước không có người khai đường mở lối, sau không có kẻ nối gót theo chân, đột-ngột giữa trời Nam như cái đồng-trụ để tiêu-biểu tinh-hoa của cả một dân-tộc. Phàm văn-chương các nước, cho được gây nên một nền thi-văn kiệt-tác, phải bao nhiêu nhà thơ, bao nhiêu nhà văn, trong bao nhiêu năm lao-công lục-lực, vun-trồng bón-xới mới thành được. Nay bậc thi-bá nước ta, đem cái thiên-tài ít có trong trời đất, đúc cái khí thiêng bàng-bạc trong non sông, một mình làm nên cái thiên-cổ-kỳ-công đó, dẫu khách thế-giới cũng phải bình-tình mà cảm-phục, huống người nước Nam được trực-tiếp hưởng-thụ cái ơn-huệ ấy lại chẳng nên ghi-tạc trong lòng mà thành-tâm thờ-kính hay sao?

Cuộc kỷ-niệm hôm nay là chủ-ý tỏ lòng quốc-dân sùng-bái cảnh-mộ Cụ Tiên-điền ta; lại có các quí-hội-viên Tây và các quí-quan đến dự cuộc là để chứng-kiến cho tấm lòng thành-thực đó. Nhưng còn có một cái ý-nghĩa nữa, là nhân ngày giỗ này, đốt lò hương, so phím đàn, chiêu hồn quốc-sĩ.

Thác là thể phách, còn là tinh anh,

áng tinh-trung thấp-thoáng dưới bóng đèn, chập-chừng trên ngọn khói, xin chứng-nhận cho lời thề của đồng-nhân đây. Thề rằng: « Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nước còn dài, chúng tôi là kẻ hậu-sinh xin rầu lòng giốc chí cố gia-công trau-chuốt lấy tiếng quốc-âm nhà, cho quốc-hoa ngày một rực-rỡ, quốc-hồn ngày một tỉnh-tao, quốc-bộ ngày một tấn-tới, quốc-vận ngày một vẻ-vang, ngõ-hầu khỏi phụ cái chi hoài-bão của tiên-sinh, ngậm cười chín suối cũng còn thơm lây! »
Chú thích:

1) công nghiệp: Công lao và sự nghiệp đối với xã hội.
2) xuất thế: ra đời, nói một cách trân trọng.
3) Thánh thư: sách Thánh.
4) Phúc âm: Tin lành.
5) dịp: nhịp.
6) văn tự: giấy tờ do hai bên thỏa thuận ký kết mua bán.
7) trước bạ: đăng ký văn tự với một cơ quan nhà nước để có tính pháp lý.
8) rau: nhau.
9) quốc sĩ: người tài nổi tiếng trong cả nước.
10) tá tả: viết dùm người khác.
11) công nghiên: một cách công khai.
12) nghiễm nhiên: (thực hiện) một cách tự nhiên và đàng hoàng, điều mà trước đó không ai ngờ.
13) túc duyên: duyên sẵn từ kiếp trước.

TỪ CÁI GỌI LÀ THÀNH LẬP QUỐC GIA KINH TỘC TẠI PHÁP…

DÂN TỘC KINH LÀ DÂN TỘC NÀO?

Tập đoàn Việt gian Cộng sản bán nước ngay trong sách sử và gần đây, tập đoàn Việt gian hủy bỏ thi môn lịch sử và dự định đổi tên môn học lịch sử là môn Công dân và Tổ Quốc để học sinh quên đi cội nguồn dân tộc, bắt các học sinh từ cấp 1 đến cấp 3 phải học tiếng Trung (Tàu Hán) để Hán hóa học sinh ngay từ khi còn nhỏ. Việt gian cộng sản còn tung ra cái gọi là cải tiến chữ Việt của Bùi Hiền một du học sinh và là đảng viên đảng CS Trung Quốc để xóa bỏ chữ Quốc Ngữ, triệt tiêu văn hóa của dân tộc để Hán hóa dân ta. Đặc biệt mới đây dư luận xôn xao về tay sai của đế quốc mới Trung Cộng tung tiền ra mua đất thành lập một hình thức “Đặc Khu Tự trị” ngay trong lòng nước Pháp cùng với sự thành lập một quốc gia Kinh tộc để trở về đất mẹ Trung Quốc. Đây là kế hoạch hết sức tinh vi xảo quyệt để thực hiện giấc mộng thế kỷ của Trung Quốc. Vậy Kinh tộc hay dân tộc Kinh là dân tộc nào mà mỗi người Việt Nam chúng ta ở miền Bắc thì sau hiệp định Genève 1954 và miền Nam sau khi cộng sản xâm chiếm 1975 đã bắt chúng ta kê khai lý lịch 3 đời phải ghi là dân tộc Kinh mà trước đó, chúng ta chỉ ghi là quốc tịch Việt Nam, người Việt Nam…

Tầm nguyên ngữ nghĩa của chữ Kinh chúng ta thấy trong cổ sử Trung Quốc đời Thương có chép rằng “Vua Cao Tông đời Ân đem quân đánh nước Quỷ Phương, đóng quân ở Kinh”. Kết quả của các công trình khảo cổ với những di chỉ nền văn hóa thời cổ đại đã phục hồi sự thật lịch sử là lịch sử Trung Hoa thời cổ đại là lịch sử của đại tộc Việt, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ cũng đã chứng minh Hoa là Hạ là Việt là dịch là nhật… Lịch sử Trung Quốc chỉ bắt đầu từ thời Thương đánh chiếm tiêu diệt nhà Hạ của tộc Việt năm 1766 TDL.

Năm 2005, sau khi nghiên cứu Văn giáp cốt học giả người Đức đã vẽ bản đồ lãnh thổ Thương bao quanh là các nước Việt. Phía Tây nước Thương (TQ) là nước Guifang (Quy Phương) ở Thiểm Tây, Nước Laiyi (Lai Di) ở phía Đông, nước Yufang ở phía Nam giáp với Thương, nước Yifang ở Đông Nam và nước Gui ở Hồ Bắc lưu vực phía Bắc sông Dương Tử. Học giả Chang ( Chang Kwung Chih Trương Quang Trực (1931-2001), gốc Đài Loan, gs khảo cổ tại Yale, Harvard Hoa Kỳ dẫn Văn giáp cốt đời Thương-Ân, Vũ Đinh vua thứ 22 đời Thương (12501192 TDL) đã 2 lần nhắc đến nước Việt (Yufang). Trúc Thư viết “Năm 32, vua Cao Tôn đánh nước Quỷ Phương, đóng quân ở Kinh…”. Đất Kinh sau này là nước Sở chính là cương giới của 1 nước Việt xưa.

Theo Địa phương chí Du lịch của tỉnh Vũ Hán thì di chỉ Bàn Long Thành (Thành Rồng nằm) nay thuộc Vũ Hán Hồ Bắc trước là kinh đô của nước Phương mà  sách sử Trung Quốc ghi là nước Quỷ (Gui). Sau khi xâm chiếm các nước trong cộng đồng Bách Việt ở lãnh thổ Trung Quốc bây giờ, Tàu Hán xưa  gọi người Việt ở vùng Kinh Sở là dân tộc Kinh trong cộng đồng dân tộc Hán. Kinh là cây gai, cây Đay để làm bao bố, Sở là cây Kinh đực nên Hùng Dịch lấy tên Sở để đặt tên là nước Sở. Tương truyền đất Kinh Sở có rặng núi Kinh trong đó có núi Việt nên còn gọi là đất Kinh Việt chuyên trồng loại cây này…

Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia do nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chỉ đạo viết: “Người Kinh, hay dân tộc Kinh (chữ Hán 京族bính âm: jīngzú, Hán-Việt:Kinh tộc) là một trong số 56 dân tộc được công nhận tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc). Người Việt hay người Kinh là một dân tộc hình thành tại khu vực địa lý mà ngày nay là miền Bắc Việt Nam và miền nam Trung Quốc. Đây là dân tộc chính, chiếm khoảng 86,2% dân số Việt Nam và được gọi chính thức là dân tộc Kinh để phân biệt với những dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Ngôn ngữ chính sử dụng là tiếng Việt theo nhóm Việt-Mường. Người Kinh sinh sống trên khắp toàn thể nước Việt Nam và một số nước khác nhưng đông nhất vẫn là các vùng đồng bằng và thành thị trong nước. Còn nếu tính cả hơn 4 triệu người Việt hải ngoại thì họ định cư ở Hoa Kỳ là đông nhất hơn 1 triệu người”.[4]

Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia cũng viết về Kinh tộc Tam đảo như sau: “Hầu hết cư dân người Kinh ở khu vực Tam Đảo (Vạn Vĩ, Vu Ðầu và Sơn Tâm) cũng như một vài nơi khác ở Quảng Tây (chủ yếu tập trung tại Đông Hưng) đều có chung nguồn gốc là người Đồ Sơn (Hải PhòngViệt Nam) cách đây khoảng 500 năm. Theo điều tra dân số tại Trung Quốc vào năm 2000, dân số người Kinh riêng tại khu vực nói trên là khoảng hơn 18.000 người …”.

TẠI SAO NHÀ NƯỚC VNDCCH DO HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO LẠI BẮT BUỘC NGƯỜI VIỆT NAM CHÚNG TA PHẢI GHI TRONG SƠ YẾU LÝ LỊCH LÀ DÂN TỘC KINH? 

Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã chính thức không cho người dân ghi là dân tộc Việt mà bắt phải ghi là dân tộc Kinh là một dân tộc thiểu số của Trung Quốc trong các giấy tờ, hộ khẩu, đơn từ.

    Theo thống kê của nhà nước CHXHCNVN thì dân số Việt Nam gồm 54 dân tộc trong đó dân tộc Kinh là đông nhất 55.900.244 người, kế tiếp là dân tộc Tày 1.190.342 người, dân tộc Thái 1.040.549 người và dân tộc Ơđu ít nhất chỉ còn 32 người. Đây là một chủ trương phản dân tộc vì trong lịch sử chúng ta là dân tộc Việt từ thời lập quốc cho tới ngày nay và không thể nào lại có một dân tộc trong một dân tộc được. Sách sử Tàu Hán cũng không ghi tên nước Việt dù vua triều Ân là Vũ Đinh có nhắc tới tên nước Việt nhưng các sử gia Tàu Hán vẫn viết là Yu, Yufang, Guifang, Gui và An Nam… mãi tới năm 1804, khi vua Gia Long sai Lê Quang Định đi sứ sang triều Thanh xin đặt tên nước là Nam Việt thì vua Thanh sợ nhắc tới Nam Việt bất lợi nên đổi lại là Việt Nam… Tên nước, quốc hiệu Việt Nam mới bắt đầu từ đó…

Theo truyền thuyết khởi nguyên dân tộc cũng như truyền kỳ lịch sử dân gian, đối chiếu với các nguồn sách sử cổ được xác định bởi các luận chứng kết quả khoa học thuyết phục thì chúng ta có nhiều chi tộc Việt trong cộng đồng Bách Việt của chúng ta. Trong đó chi Lạc Việt là đông nhất55.900.244 người, kế tiếp là đồng bào Tày 1.190.342 người, đồng bào Thái 1.040.549 người và chi ít nhất chỉ còn 32 người mà chúng ta gọi là đồng bào thiểu số là những chi tộc Việt như đồng bào Mường, Thái, Nùng, Dao, Thổ, Hmong, Giarai, Kaho trong đại chủng Bách Việt. Hầu hết các đồng bào thiểu số của chúng ta còn ở lại cư ngụ ở Đông Bắc và miền Nam lãnh thổ Trung Quốc bây giờ nên kết quả phân tích cấu trúc mã di truyền chứng minh rằng hơn một nửa dân số gọi là người Trung Quốc là người Việt cổ có cùng DNA với chúng ta và hoàn toàn khác biệt với Tàu Hán Trung Quốc. Thực tế lịch sử cho chúng ta biết rằng còn rất nhiều dòng họ Việt còn sống bên Trung Quốc bây giờ, tuy gọi là người TQ nhưng đồng bào Việt của chúng ta vẫn giữ nguyên bản sắc văn hóa truyền thống Việt.

Thời Việt Nam Cộng Hòa chúng ta là người Việt nhưng gọi là đồng bào Kinh là người ở miền đồng bằng và đồng bào Thượng là đồng bào thiểu số ở thượng du, cao nguyên để có chủ trương chính sách nhằm nâng đỡ đồng bào thiểu số của chúng ta mà thôi. Nền đệ nhị Cộng Hòa đã ban hành Quy chế Riêng Biệt để tạo điều kiện nâng đỡ cho Đồng bào Thiểu số ở VN…

BÀI HỌC MÁU VÀ NƯỚC MẮT CỦA LỊCH SỬ…

Bài học máu và nước mắt cho chúng ta thấy rằng trong suốt trường kỳ lịch sử đế quốc Tàu Hán xưa và đế quốc mới Trung Cộng ngày nay là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt chúng ta. Chúng đã xua quân xâm lược nước ta 26 lần và 9 lần thống trị nước ta trong gần 1000 năm. Tàu Hán không từ một thủ đoạn quỷ quyệt nào để cấy người, đưa tay sai vào guồng máy lãnh đạo cùng với kế sách trường kỳ xâm thực văn hóa nhằm xóa bỏ chữ viết, triệt tiêu văn hóa để Hán hóa dân tộc ta…. Trong lịch sử Việt, người anh hùng dân tộc Triệu Vũ Đế, người khai mở quốc gia Nam Việt sánh ngang cùng Hán triều phương Bắc khiến Hán văn Đế phải giao trả toàn bộ vùng Lĩnh Nam để xin được thông hiếu như xưa. Thế nhưng với bản chất thâm độc quỷ quyệt, Tàu Hán đã thực hiện quỷ kế để cấy gene Hán vào dòng máu Việt hầu thống trị dân ta như sau: “Khi Triệu Vũ Đế mất, Triệu Văn Vương huý là Hồ là con của Trọng Thủy, cháu đích tôn của Triệu Vũ Đế lên thay thì Nam Việt đã suy yếu. Vua Hán sai Trang Trợ sang Nam Việt chiêu dụ Triệu Văn Vương vào chầu. Triệu Văn Vương sai Thái tử Anh Tề sang làm con tin và cáo bệnh tìm cớ thoái thác. Thất bại trong âm mưu chiêu dụ Văn vương vào chầu, Hán triều cho thực hiện một ý đồ thâm độc tinh vi và xảo quyệt hơn. Thật vậy, trong thời gian Anh Tề ở Trường An, Hán triều đã tạo điều kiện để dàn xếp mối mai một cuộc hôn nhân dị chủng với Cù Thị người Hán để khi người con sinh ra sẽ có dòng máu Hán trong người. Không kể rất có thể con của Ai Vương với Cù Thị chính là con của Cù Thị và An Quốc Thiếu Quý…Năm Mậu Thìn 113 TDL, Triệu Minh Vương mất, con là Thái Tử Anh Tề lên ngôi nối ngôi lấy hiệu là Triệu Ai Vương. Vừa lên ngôi, Ai Vương tôn mẹ (người Hán) là Cù Thị lên làm Thái hậu. Hán triều vội cử An Quốc Thiếu Quý đi sứ đến Nam Việt. Thiếu Quý trước là người tình của Cù Thị được Hán triều cử sang Nam Việt với mục đích chiêu dụ Ai Vương đem Nam Việt sát nhập vào Hán theo chế độ nội thuộc nghĩa là nội chư hầu, cứ ba năm vào chầu một lần, bãi bỏ các cửa quan ải ngoài biên giới”. 

    Thừa tướng Lữ Gia biết rõ ý đồ thâm độc của Hán triều nên tìm cách can ngăn nhưng không được. Hán Đế nghe tin Lữ Gia không nghe theo lệnh Ai Vương và Thái Hậu thì thế cô, yếu đuối nên không thể chế ngự được nên sai Hàn Thiên Thu và Cù Lạc, em trai của Thái hậu đem hai ngàn quân tiến vào cảnh vực nước Việt. Nghe tin quân Hán tiến sang, Lữ Gia ra lệnh phòng thủ và thông cáo với người trong nước rằng: “Vua tuổi trẻ mà Thái hậu vốn người Hán lại cùng sứ Hán dâm loạn, muốn đem nước nhà nội thuộc Hán nên đem hết những bảo khí của Tiên vương vào dâng cho triều Hán để xiểm nịnh, lại đem nhiều kẻ đi theo đến Tràng An, bán cho người Hán làm tôi tớ, tự lấy cái lợi ích nhất thời mà không đoái tưởng đến xã tắc họ Triệu làm ý chí mưu tính muôn đời”.

    Lữ Gia cùng người em và nhân dân cả nước nổi lên giết Cù Thị, Ai Vương và toàn bộ sứ đoàn Hán, đồng thời cho người sang thông báo cho Tần vương ở Thương Ngô và các quận ấp trong nước hay biết. Lữ Gia cùng triều thần lập người con trưởng của Triệu Minh Vương mà mẹ là người Việt là Vệ Dương hầu Kiến Đức lên làm vua.

Bài học lịch sử cấy gene Tàu Hán lại được Đế quốc mới Trung Cộng áp dụng âm mưu thâm độcHán hóa dân ta nên khi Nguyễn Tất Thành mạo danh Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Trung Quốc thì chính Chu Ân Lai thực hiện mưu đồ thâm độc quỷ quyệt của Tàu Hán nên đã đứng ra chủ hôn cho Nguyễn Ái Quốc lấy Tăng Tuyết Minh là một nữ cán bộ Cộng sản người Trung Quốc để sau này có com nối nghiệp lên lãnh đạo thì đã có nửa dòng máu Tàu trong người để Hán hóa dân tộc ta…

Khi Nguyễn Ái Quốc chết năm 1932 thì Cộng sản quốc tế và cs Trung Quốc lại đưa Hồ Quang nhập vai Hồ Chí Minh để Hán hóa dân tộc ta. Thật vậy, sau khi chiếm toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc, thành lập nhà nước Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa, Mao Trạch Đông chỉ thị Hồ Chí Minh thực hiện kế hoạch từng bước sát nhập Việt Nam vào Trung Quốc. Năm 1950, Hồ Chí Minh sang Bắc Kinh xin viện trợ vũ khí và đề nghị Hồng quân Trung Cộng sang tham chiến. Hồ Chí Minh đã ký “Ghi nhớ Hợp tác Việt Trung” trong đó điều 3 quy định: “Hai bên thống nhất Việt Nam dân chủ cộng hòa là một bộ phận của cộng hòa nhân dân Trung Hoa với quy chế của một liên bang theo mô hình các quốc gia nằm trong Liên Bang Xô Viết”. Hồ Chí Minh cam kết chấp nhận Việt Nam là 1 quân khu như quân khu Quảng Châu của Trung Quốc ngày 12-6-1953 tại Quảng Tây. Hồ Chí Minh đã ký thỏa thuận giao quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc, sau đó là cả Việt Nam trở thành một bang của Trung cộng theo mô thức Cộng Hòa Liên Bang Xô Viết sau khi chiếm được toàn cõi Việt Nam.

Biết tập đoàn CSVN đang lâm vào thế khốn cùng sau khi Liên Sô xụp đổ nên Đế quốc mới Trung Cộng buộc tập đoàn Việt gian CS gồm Phạm văn Đồng, Nguyễn văn Linh, Đỗ Mười… phải sang Thành Đô ký cam kết mật bán nước ngày 4-9-1990 và tập đoàn Việt gian bán nước do Việt gian Nguyễn Phú Trọng cầm đầu đang thực hiện những bước cuối cùng biến VN thành một khu tự trị năm 2020.

Ý ĐỒ THÂM ĐỘC QUỶ QUYỆT 

CỦA TẬP ĐOÀN VIỆT GIAN CỘNG SẢN VÀ ĐẾ QUỐC MỚI TRUNG CỘNG.

Ngay sau khi hạ độc thủ giết Trần Đại Quang, Nguyễn Phú Trọng gồm thâu quyền lực Tổng Bí Thư kiêm Chủ Tịch nước CHXHCNVN đã bày tỏ lòng trung thành với “Mẫu quốc” đã cho lưu hành đồng nhân dân tệ của TQ tại 6 tỉnh biên giới, cho Hải quân NDVN tập trận chung với Hải quân TQ, cử bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch sang tái cam kết “Cùng chung vận mạng”, nguyện làm tiền đồn bảo vệ đất mẹ TQ… Đồng thời ra quyết định kỷ luật TS Chu Hảo một trí thức yêu nước để trấn áp mọi mầm mống chống đối của trí thức văn nghệ sĩ…

Nhìn lại toàn bộ tiến trình lịch sử Việt, chúng ta thấy rằng Tàu Hán xưa và đế quốc mới Trung Cộng ngày nay không từ bỏ ý đồ xâm chiếm thống trị Hán hóa dân tộc Việt Nam chúng ta. Việc Hồ Chí Minh bắt người Việt Nam chúng ta phải khai là dân tộc Kinh đến việc ký kết mật ước Thành Đô và mới đây thành lập cái gọi là quốc gia Kinh tộc trên đất Pháp để chuẩn bị cho việc Nguyễn Phú Trọng biến Việt Nam thành một khu tự trị năm 2020 lấy tên là “KHU TỰ TRỊ DÂN TỘC KINH” của Trung Quốc để xỏa bỏ vĩnh viễn chữ VIỆT trong lịch sử!

Chúng ta đã và đang mất nước dần cho đến năm 2020 thì đất nước Việt Nam sẽ bị xóa tên trên bản đồ thế giới và dân tộc Việt Nam sẽ tiêu vong. Toàn thể đồng bào Việt Nam trong nước phải đứng lên đáp lời sông núi, đồng loạt xuống đường trên cả nước để đấu tranh giải thể tập đoàn Việt gian Cộng sản, kẻ nội thù của dân tộc để toàn dân Việt Nam trong nước và Hải ngoại đoàn kết một lòng chống quân Tàu Cộng xâm lược.

Thời gian không cho phép chúng ta do dự chần chờ mà phải quyết tâm hành động, quyết tâm cứu dân cứu nước trước khi đã quá muộn… Chúng ta sẽ đắc tội với thế hệ con cháu muôn đời sau…

Hỡi toàn thể đồng bào Việt Nam

Tổ Quốc Việt Nam đang Lâm Nguy

Sơn Hà Nguy Biến…

Chín mươi triệu đồng bào Việt Nam khốn khổ đang chờ đợi chúng ta

Giờ Lịch sử đã điểm !!!

Toàn thể đồng bào Việt Nam chúng ta cùng đứng vùng lên đáp lời sông núi …

Đòi Dân chủ Tự do, Đòi cơm no áo ấm, Đòi quyền sống làm người, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ…

Hồn Thiêng Sông Núi,

Anh linh Anh hùng Liệt nữ sẽ phù trì cho chúng ta…

Tổ Quốc Việt Nam Trường Tồn

Dân Tộc Việt Nam Bất Diệt

Việt Nam Muôn Năm…

PHẠM TRẦN ANH

VĂN HỌC VIỆT NAM THẬP NIÊN 1930

Ngô Thị Quý Linh

Trong giới trí thức thời thuộc Pháp, nhiều người đã đi tiên phong trong một số phạm vi khai triển tri thức. Những công trình trước tác của họ được xem như là những tác phẩm quốc-ngữ đầu tiên trong những thể loại văn học như lịch sử (Việt-Nam Sử-lược của Trần Trọng Kim), triết học (Nho-giáo của Trần Trọng Kim), văn hoá (Việt-Nam Văn-hóa Sử-cương của Đào Duy Anh), văn xuôi đoản thiên tiểu thuyết (Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học), văn xuôi truyện dài (Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách), văn thơ lãng mạn (Tương Phố), văn tả chân (Vũ Trọng Phụng), văn vần (Tình Già của Phan Khôi), giáo khoa (những sách văn học và văn học sử của Dương Quảng Hàm), phóng sự…

Nhờ phương tiện truyền thông mới là báo chí, lớp trí thức tân học đã ảnh hưởng đến một số đông người hơn ngày xưa khi các bản văn truyện còn phải chép tay rồi chuyền cho nhau đọc. Giới trí thức đã dùng báo, rồi về sau là sách, để truyền bá những tư tưởng của họ.

Về phương diện thi ca, thời kỳ bộc phát của “thơ mới” được xem như khởi đầu với bài thơ Tình Già của Phan Khôi (Phụ Nữ Tân Văn, 10 Mars 1932, Sài-gòn). Qua bài thơ này, Phan Khôi chỉ có ý định dùng một lối thơ nào có thể diễn tả được hết tư tưởng của mình, chứ chưa đặt ra vấn đề “thơ mới thơ cũ”. Ông dự định “đem ý thật có trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu có vần mà không bó buộc bởi niêm luật gì hết” (Hoài Thanh, Thi-nhân tiền-chiến).

Thời ấy, thơ Đường-luật là lối thơ khá thịnh hành đang bị giới trí thức trẻ như Trịnh Đình Rư chê: “lối thơ Đường-luật bó buộc người làm thơ phải theo cái khuôn phép tỉ mỉ, mất cả cái hứng thú tự do, cái ý tưởng dồi dào. Nếu ngày nay ta cứ sùng thượng cái thơ ấy mãi, thì làng văn Nôm ta sẽ chắc không có ngày đổi mới được vậy.” (Phụ Nữ TânVăn, số 33, 19 Décembre 1929)

Chẳng phải trên phương diện văn học không thôi mà bất cứ phương diện nào cũng thế, nếu chỉ có một khuôn mẫu để theo thì dễ đi đến trì trệ, bế tắc. Thi ca cũng như văn chương cần trải qua những sự thử thách để đem lại những sự sáng tạo mới.

Mùa thu năm 1932, Phong-Hóa khẳng định thái độ đối với “thơ mới”: “Thơ ta phải mới, mới văn-thể, mới ý-tưởng”. Từ dạo đó trở đi, Phong-Hóa đăng những bài thơ mới của nhiều thi sĩ như Lưu Trọng Lư, Tân Việt, Thế Lữ, Tứ Ly, Nhất Linh, Vũ Đình Liên, Đoàn Phú Tứ, Huy Thông.

Giữa năm 1933, cô Nguyễn Thị Kiêm, một nữ sĩ có tài diễn thuyết, đã tán dương “thơ mới” trên diễn đàn Hội Khuyến-học Sài-Gòn.

Nhà thơ đầu tiên chú ý đến “thơ mới” một cách nhiệt tình là Lưu Trọng Lư, tác giả tập thơ Tiếng Thu. Thi sĩ không thể chịu đựng nổi sự bó buộc của các lối thơ cổ. Đối với Lưu Trọng Lư, cái tình cảm dồi dào của người nay không thể khép vào trong những niêm luật khắc khổ được. Thi sĩ đồng ý với Lanson là người đã nói rằng: “À des états d’âmes nouveaux, des genres nouveaux”. (Với những cái tâm trạng mới, phải có những văn thể mới, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, 1er Décembre 1934)

Lưu Trọng Lư công nhận “(…) cái điệu thơ thật có quan hệ đến bài thơ. Sống ở trong cuộc đời mới mẻ, lòng thấy vài cái tình cảm khác khác, mà muốn diễn tả ra cho hết, không thể không tìm đến những cái điệu rộng rãi, mềm mại hơn.” (Tiểu Thuyết Thứ Bảy, 15 Décembre 1934) Vì thế, chính thi sĩ đã nhận thấy rằng phải đổi hình thức của thơ cho phù hợp với những cảm xúc của con người. “Hình thức của thơ phải mới, mới luôn, cho hợp với tâm hồn của ta, cái tâm hồn phiền phức của ta, trong khi tiếp xúc với hoàn cảnh mới, lại càng thêm phiền phức…” (Tiểu Thuyết Thứ Bảy, 19 Janvier 1935)

Nguyễn Vỹ đi xa hơn trong hình thức “thơ mới” khi ông chọn làm thơ theo kiểu “mười chân” và “mười hai chân”. Ông bị Thế Lữ chế giễu và chê ông “mang cái gông cùm mới của luật thơ Tây”, nhưng được Lê Tràng Kiều bênh vực rằng dù Nguyễn Vỹ đóng góp “một mảnh vôi nhỏ” trong việc xây đắp “tòa lầu Nghệ-Thuật” cũng là đáng quý rồi. Lê Tràng Kiều đã lấy bài Sương Rơi của Nguyễn Vỹ, với những câu thơ chỉ có hai chữ, diễn tả “nhạc điệu thiên nhiên của những vật vô hình và hữu hình ở trong vũ trụ lúc đêm khuya” để chứng tỏ công đóng góp của thi sĩ vào “tòa lầu Nghệ-Thuật”.

Năm 1934, Nguyễn Vỹ và Trương Tửu đề xướng một qui luật cho thơ mới, gọi là “Trường thơ Bạch Nga”. Trên diễn đàn hội quán Hội Khai-trí Tiến-đức bên bờ hồ Hoàn-kiếm, Trương Tửu đã diễn thuyết về thơ Bạch-nga trước một số khán giả rất đông, gồm cả phụ nữ, thanh niên, học sinh, văn nghệ sĩ. Sự hiện diện đông đảo của công chúng đủ cho thấy sự háo hức của họ đối với “thơ mới”.

Đến năm 1936, “thơ mới” đã chiếm được ưu thế trong làng thơ. Rất nhiều thi phẩm đã được sáng tác trong thời gian ba năm, từ năm 1933 đến năm 1936, của “cuộc cách mệnh về thi ca” theo nhận định của Lê Tràng Kiều. Nhiều bài “thơ mới” sau đó được phổ nhạc và trở thành phổ thông: Thơ Sầu Rụng và Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư, Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp, Cô Hái Mơ và Cô Lái Đò của Nguyễn Bính, v.v… “Thơ mới” từ đó đã được chấp nhận chẳng khác gì thơ cổ-điển, miễn là công chúng thấy hay!

Về văn chương, khi Phạm Quỳnh có ý kiến “Bàn về tiểu-thuyết” (Tiểu-thuyết là gì và phép làm tiểu-thuyết thế nào, Nam Phong, Janvier 1921), ý muốn của ông là giúp cho nghệ thuật viết tiểu thuyết được hay hơn. Ông định nghĩa tiểu thuyết, phân loại hình thức, chỉ dẫn cách kết cấu, so sánh cách hành văn của Trung-Hoa và Pháp để tìm cách phô diễn tư tưởng. Ông chia tiểu thuyết ra làm mấy loại như sau:

– “lý-luận tiểu-thuyết” (romans à thèses)

– “ tiểu-thuyết ngôn-tình” (romans passionnels)

– “tiểu-thuyết tả-thực” (romans de moeurs)

– “tiểu-thuyết truyền-kỳ” (romans d’aventures)

Về hình thức, có thể phân biệt: trường-thiên tiểu-thuyết, đoản-thiên tiểu-thuyết (nouvelle), nhàn[1]đàm tiểu-thuyết (conte).

Trong số những nhà văn đi tiên phong về tiểu thuyết, có Nguyễn Bá Học và Phạm Duy Tốn khởi đầu bằng những truyện ngắn đăng trên Nam Phong. Theo ý kiến của Vũ Ngọc Phan, tuy các truyện ngắn của hai ông hãy còn nhiều khuyết điểm, cả hai ông đã được Vũ Ngọc Phan (Nhà Văn Hiện Đại, 1941) xem như là những nhà viết truyện ngắn đầu tiên theo lối mới, thoát ra ngoài khuôn sáo cũ của văn chương Trung-Hoa thời xưa.

Năm 1925, quyển tiểu thuyết Quả Dưa Đỏ của Nguyễn Trọng Thuật được giải văn chương của Hội Khai-trí Tiến-Đức. Hai quyển tiểu thuyết khác cũng được chọn là Kim-Anh lệ-sử của Trọng Khiêm và Nho-phong của Nguyễn Tường Tam.

Được chú ý hơn cả trong thời kỳ này là quyển Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, xuất bản năm 1925. Với một cách kết cấu khéo léo hơn những truyện ngắn đầu tiên của các tác giả khác, Hoàng Ngọc Phách đã làm say mê giới trẻ đương thời vì đã diễn tả được tâm trạng bồng bột yêu đương của thanh niên thiếu nữ thời đó. Các nhà mô phạm, các bậc phụ huynh càng công kích Tố Tâm, càng làm cho nhiều người đọc truyện đó, học trò chuyền tay nhau đọc một cách say mê.

Những nhà viết tiểu thuyết đầu tiên đã phải đi tìm một hướng đi mới mẻ, đặc sắc mà lại thích hợp với thị hiếu của quần chúng, một thị hiếu luôn luôn thay đổi với thời đại. Để hiểu được thị hiếu của quần chúng, nhà văn sẽ phải sống hòa mình với dân chúng vì quan niệm về tiểu thuyết ngày nay đã khác trước rồi.  “Tiểu thuyết phải gần đời, phải là đời với những lúc sướng lúc khổ, phải có những cái nhỏ nhen, tầm thường, cao thượng của đời, phải có những cái đáng thương, những cái buồn cười, những cái bực tức.” (Khái Hưng, Câu chuyện hằng tuần, Ngày Nay, số 180)

Thập niên 1930 thực sự là thời kỳ nở rộ của văn học Việt-Nam. Sau Hoàng Ngọc Phách, trong Nam có Hồ Biểu Chánh rất nổi tiếng với những tiểu thuyết có tính chất bình dân từ nhân vật đến lời văn. Truyện của ông đăng trong Phụ-nữ tân-văn và lôi cuốn được rất nhiều độc giả. Ở Bắc, về loại tiểu thuyết tả chân có Nguyễn Công Hoan, Vũ Bằng, Nguyễn Đình Lạp, Tô Hoài; về tiểu thuyết xã hội có Nguyên Hồng, Trương Tửu,Thạch Lam, Đỗ Đức Thu, Nguyễn Vỹ, v.v…; về tiểu thuyết phong tục có Khái Hưng, Trần Tiêu, Mạnh Phú Tư, Bùi Hiển, Thiết Can; về tiểu thuyết luận đề, có Nhất Linh, Hoàng Đạo; về tiểu thuyết luân lý có Lê Văn Trương; về tiểu thuyết truyền kỳ có Lan Khai, Đái Đức Tuấn; về tiểu thuyết phóng sự có Chu Thiên; về tiểu thuyết hoạt kê có Đồ Phồn; về tiểu thuyết trinh thám có Thế Lữ, Phạm Cao Củng; về truyện ký và lịch sử ký sự có Phan Trần Chúc, …

Ngoài những thể loại tiểu thuyết, còn có những thể loại văn chương mới đã được các nhà văn sử dụng: bút ký với Nguyễn Tuân, Phùng Tất Đắc; phóng sự với Vũ Đình Chí, Vũ Trọng Phụng,Trọng Lang, Ngô Tất Tố; phê bình với Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan; kịch với Vũ Đình Long, Vi Huyền Đắc, Đoàn Phú Tứ, Khái Hưng; biên khảo có Phạm Quỳnh,Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Lê Dư, Nguyễn Văn Ngọc, Đào Duy Anh, …

Trần Trọng Kim được xem là người đầu tiên soạn ra một cuốn sách sử Việt-nam bằng quốc-ngữ có giá trị, ở một thời kỳ mà “sử học nước ta vẫn còn khuyết điểm nhiều lắm: cái phương pháp khoa học dùng để tìm kiếm tài liệu đã chưa có, mà cả đến luật lệ nhứt định cho sử gia, cùng với triết học của lịch sử cũng thiếu nữa. (…) Tôi quyết đoán rằng sau ông Trần sẽ có nhiều sử gia hoàn toàn hơn ông. Song hiện nay tôi mới thấy bộ Việt-nam Sử-lược là hơn hết, chẳng những là một bộ sách giáo khoa về lịch sử có giá trị, mà còn là một bộ sử ký của khắp cả những ai muốn rõ lịch sử nước nhà.” (Thiếu Sơn, Phụ-nữ Tân[1]văn, số 97, 27 Aout 1931)

Mặc dù sau đó có một số sách sử giáo khoa, các sách sử Việt hãy còn nhiều khiếm khuyết. Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố đóng góp ý kiến về việc viết lịch sử Việt-Nam. Theo Ứng-Hòa, ngoài việc tìm và đọc sử liệu, người viết sử còn phải biết lọc lựa, sát hạch và phê phán. Trong khi làm việc, cần đối chiếu tài liệu, không nên tin ngay vào một quyển sách nào vì có những chi tiết hoặc truyện bịa đặt chứ chưa chắc đã là thực.

Nguyễn Văn Tố cho rằng nhà viết sử còn cần phải là một nhà khảo cổ, tra cứu trong những quyển du ký của những người ngoại quốc để tránh những tư tưởng bất công đối với một triều đại nào. Nhà viết sử ngày nay không chỉ chép lại những công việc của triều đình và vua chúa mà còn phải tìm hiểu cả đến những sự sinh hoạt trong toàn xã hội. Muốn viết một bộ sử ký hoàn bị, nhà viết sử cần khảo cứu thêm về “nhân-loại-học, cổ-điển-học, minh-văn-học, cổ-tục-học, v.v…”

Hoài Thanh chú ý đến quyển Việt-nam Văn-hóa Sử-cương của Đào Duy Anh khi quyển này vừa được xuất bản. Ông công nhận đây là quyển sách khảo cứu đầu tiên về văn hoá Việt-Nam. Sách không chú trọng về chính trị hưng suy của các triều vua như những sách sử khác mà cho thấy “sự sinh hoạt tinh thần và vật chất của toàn thể nhân dân trong mấy mươi thế kỷ, sự cố gắng vĩ đại của tổ tiên ta để giành lấy sống còn cho chủng tộc.”

Công chúng Việt-Nam thờ ơ đối với sách khảo cứu. Họ đọc sách để giải trí, để giết thì giờ. Sách này của Đào Duy Anh ra đời mà dư luận hết sức “lạnh lùng”. Hoài Thanh thấy phải giải thích cho công chúng hiểu rằng loại sách khảo cứu cần thiết cho sự xây dựng một cuộc đời độc lập cho dân tộc Việt[1]Nam.

“Tôi vẫn biết tiểu-thuyết và thi ca – những tiểu-thuyết và thi ca có giá-trị – là quan hệ. Nhưng vận[1]mệnh một dân-tộc không phải chỉ ở trong mấy quyển truyện và mấy bài thơ. Ta phải có những người chuyên tâm nghiên-cứu về tất cả các vấn-đề quan-hệ đến tương-lai, hiện-tại và quá-khứ của dân-tộc.” (Nhân xem quyển “Việt-nam Văn-hóa Sử-cương”, Tao Đàn, số 11, 16 Aout 1939)

Hoài Thanh là người chú trọng đến “ý-nghĩa và công-dụng của văn-chương” (Tao Đàn, số 7, 1er Juin 1939). Ông thấu hiểu sự cần thiết của văn chương trong đời sống con người và đòi hỏi nhà văn phải quên mình đi để sáng tạo.

“Văn-chương gây cho ta những tình-cảm ta không có, luyện những tình-cảm ta sẵn có, cuộc đời phù-phiếm và chật-hẹp của cá-nhân vì văn-chương mà trở nên thâm-trầm và rộng-rãi đến trăm nghìn lần. (…) Vậy thì văn-chương, cứ làm tròn nhiệm-vụ tự-nhiên của nó cũng đã có ích rồi. Nó trau dồi, tô-điểm cho đời người và trao cho cuộc đời một ý-nghĩa sâu, rộng. (…) Và văn-chương đâu có phải là một trò chơi phù-phiếm. Nếu ở đời này có một điều nghiêm-trọng vì luôn luôn đi bên cạnh những sự huyền-bí bao trùm người ta và vũ-trụ, điều ấy là văn-chương.”

Thời này, chưa có trường dạy viết văn. Mỗi nhà văn phải sửa chữa lấy bài vở của mình, nghĩa là tự phê bình văn thơ mình. Sau khi tác phẩm xuất hiện ngoài công chúng, có các nhà phê bình đóng vai “ngự-sử trên văn-đàn” giúp cho độc giả hiểu rõ tác giả và tác phẩm hơn đồng thời giúp cho tác giả một cơ hội nữa để sửa chữa những khuyết điểm trong việc sáng tác của mình. Quan trọng hơn nữa đối với nhà văn là những lời chỉ dẫn giúp cho nghệ thuật viết văn được hoàn toàn hơn.

Thạch Lam đã lược dịch “Lời khuyên bảo những người mới viết văn” của Ch. Beaudelaire và J. Prévost (Ngày Nay, số 215 và 216, 13 và 20 Juillet 1940). Trong khoảng hai năm 1939 và 1940, ông viết ra một “Vài ý nghĩ về văn chương” sau này được xuất bản trong một tập sách nhỏ lấy tựa là Theo Giòng.

Thạch Lam có những nhận xét tinh tế đối với nghệ thuật viết văn. Chán những cách tả cảnh sáo cũ và vô vị, ông nhắc nhà văn nhà thơ phải nhìn ra cái đẹp ở những nơi bất ngờ, khám phá ra những điều mới để cho người khác được biết và thưởng thức. Thay vì ca tụng hoa và liễu như các thi sĩ đời xưa, ông đã tìm thấy nhiều cái đẹp khác của vạn vật như cái mầm đầy nhựa, những búp lá mới non, cái vui sướng của mầm cây từ dưới đất nhô lên đón ánh mặt trời, cái rung động của ngàn lá trong làn gió mát.

Ông còn nhận thấy sự thành thật giúp cho truyện thêm hay. Những truyện luân lý xưa không làm chúng ta cảm động vì các nhân vật trong truyện hoàn toàn quá, cũng có nghĩa là giả tạo quá. Họ không có khuyết điểm, họ không có những sự yếu đuối và băn khoăn như con người thật. Họ thuộc về một thế giới riêng chứ không giống chúng ta. Chính cách xây dựng nhân vật như thế đã không cảm động được ta.

Một quyển sách truyện hay theo quan niệm xưa phải mang tính chất đạo đức nho giáo. Hễ quyển truyện nào không có yếu tố này tức nhiên bị chê bai. Đó cũng là một trong những lý do bất đồng về Truyện Kiều giữa Phạm Quỳnh và Ngô Đức Kế. Phạm Quỳnh khen Truyện Kiều là một áng văn hay theo quan niệm nghệ thuật, còn Ngô Đức Kế chê Truyện Kiều vì truyện không phải là một tấm gương luân lý cho người đời noi theo.

Trúc Hà nhận thấy Tố Tâm ra đời mà không được hoan nghênh công khai “Bởi vì Tố Tâm ra đời hơi sớm một chút, ra đời giữa cái lúc luân lý đạo đức cũ còn mạnh và cái quan niệm mỹ thuật của người mình lại không giống với người Tây phương.” (Phụ-nữ Tân-văn, 16 Janvier 1933)

Khuynh hướng tách rời luân lý ra khỏi phạm vi văn chương đã đưa đến cuộc tranh cãi “nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh.”

Những người chủ trương thuyết nghệ thuật vị nhân sinh cho rằng “văn-chương không được vô[1]tư-kỷ, phải bổ ích cho người đời, còn văn hay, lời đẹp là phần phụ thuộc.” (Thiều Quang Lê Quang-Lộc, Nghệ-thuật với văn-hóa, Tao Đàn, số 1, 1er Mars 1939)

Trong số những người phản đối chủ trương nghệ thuật vị nhân sinh, có người đã đưa lý lẽ rằng “văn-chương tự nó biến hóa theo xã hội” và “văn-chương phải được hoàn-toàn tự-do, phải thành-thực và phải phát sinh ở cảm-xúc.” (Thiều Quang)

Với Lan Khai, văn chương chỉ cần có một đối tượng duy nhất là “Người, con người trước Thời[1]gian và Vũ-trụ” (Bàn qua về nghệ-thuật, Tao Đàn, số 7, 1er Juin 1939). Sự phân loại trong văn chương thành ra cổ điển, lãng mạn, tả thực chỉ có tính cách hình thức vì mục đích của văn chương lúc nào cũng chỉ là dùng để “phô diễn con người, nạn-nhân vĩnh-viễn của xã-hội, của yếu-hèn, của đau-khổ và của sự chết. Diễn-tả cho đúng hệt con người, nghệ-thuật văn-chương đã đạt được mục-đích và do đấy, có thể trở nên thứ nghệ-thuật văn-chương muôn đời vậy.”

Tính chất thành thực là một yếu tố rất quan trọng trong sự sáng tác vì “không thành-thực với cảm-xúc, nhà văn chỉ có thể sản xuất ra một thứ văn-chương giả-dối” (Thiều Quang). Muốn diễn tả cho thành thực, nhà văn cần có một điều kiện: nhà văn phải được hoàn toàn tự do. Nếu họ bị bắt buộc phải làm việc trái với bản chất tự nhiên của họ, như vậy là “ép họ sản xuất ra một thứ văn-chương điêu trá.”

Giới trí thức thời đó, nhất là những người cầm bút, đều biết đến André Gide. Gide là nhà văn hào Pháp có cảm tình với chủ nghĩa cộng sản trong thập niên 1930. Tuy không gia nhập Association des Ecrivains et Artistes révolutionnaires, Gide vẫn tham dự vào Comité de patronnage của tờ Commune, tạp chí của Hội Văn Nghệ Sĩ Cách Mạng.

Gide được mời sang Mạc-tư-khoa (Moscow) vào tháng Sáu năm 1936 và được trọng đãi như thượng khách. Nga-xô lúc ấy được xem là “thiên đường của thợ thuyền” và là nơi qui tụ nhiều thanh niên ưu tú khắp thế giới. Cũng như nhiều người đương thời, Gide tin tưởng những chương trình cải cách xã hội của Nga-xô là giải pháp cho những sự rối loạn trong xã hội tư bản. Gide tưởng tượng Nga-xô như một cường quốc phát triển cả về kinh tế và xã hội, về giáo dục cũng như văn hóa.

Dời Mạc-tư-khoa trở về Pháp, Gide vội vàng cho xuất bản quyển Retour de l’URSS tháng Mười cùng năm, trong đó Gide nói đến sự nghèo nàn trong đời sống vật chất và tinh thần của người dân Nga. Mặc dù được tiếp đón nồng nhiệt, Gide vẫn cảm thấy được cái không khí u uất bao bọc chung quanh: thay vì gặp những công dân tự do, Gide nhìn thấy những con người nô lệ đã bị tẩy não, lúc nào cũng sống trong áp chế và sợ hãi, và phải tôn sùng Staline. Gide thành thực nói lý do tại sao ông phải viết quyển sách này: “đối với tôi, có những việc rất hệ-trọng, hệ-trọng hơn cả tính-mệnh tôi, hơn cả nước Nga nữa, ấy là Nhân-loại, nhân-loại với số-mệnh, với văn-hóa của nó.” (Lưu Trọng Lư, “Con đường riêng của trí[1]thức, Để đáp các ông Phan văn-Hùm, Trần Huy-Liệu, Bùi Công-Trừng, Hải-Triều và Trương-Tửu”, Tao Đàn số 6, 16 Mai 1939)

Theo như Gide nhận xét, “nước Nga, với cái phương pháp giáo-hóa hiện hành đã chôn sâu cá-tính của người Công-Dân và nhất là đã cướp quyền tự do thiêng liêng của nhà văn sĩ.” (Thiều Quang)

Nhiều người đã cho rằng Gide bị kẻ thù địch với chủ nghĩa cộng sản mua chuộc. Họ chế giễu, bôi nhọ, và cho rằng Gide là “kẻ phản động”. Lưu Trọng Lư đã bào chữa cho Gide. Ông bảo không nên phê bình Gide trên lập trường chính trị mà nên đứng trên phương diện “người” để phán đoán về Gide.

Lưu Trọng Lư đã cho rằng sự “khác người” của Gide phải trả giá đắt quá. Giá mà Gide phải trả là bị đảng trừng phạt, mất thế lực đối với thanh niên đương thời, mất sự hâm mộ của quần chúng. Nhưng Gide đã theo tiếng gọi của lương tâm, thành thực nói lên những điều ông nghĩ: Gide đã đi một con đường riêng, con đường của một nhà trí thức.

Con đường này là con đường hướng đến tương lai, hướng đến tiến bộ và nhiều khi khác với khuynh hướng của quần chúng. Nhưng Gide không nao núng vì ông hiểu rõ giá trị của người cầm bút. “Cái giá trị chính thức của nhà văn là ở cái thái độ phản đối, ở cái tinh-thần bất mãn của họ. Bất cứ ở một xã hội nào, nhà văn bao giờ chẳng là kẻ bơi ngược giòng?”

 Sự áp chế đối với nhà văn ở Nga thời đó đã từng xảy ra ở nước ta trong thời quân chủ chuyên chế. Ngô Tất Tố đã nhận xét về sự chuyên chế trong phạm vi văn chương đời trước mà ông gọi là Những xiềng xích của văn-chương ngày xưa (Tao Đàn số 2, 16 Mars 1939). Theo Ngô Tất Tố, trong sự chuyên chế Tây phương, người dân có thể bị chém, bị giết, bị giam cầm, bị cấm tự do ngôn luận tuỳ theo triều đại vua tàn bạo hay không. Sự chuyên chế ở phương Đông không những bao gồm cả những sự tàn nhẫn vô lý trên lại còn đặt ra một thể chế “rất mầu-nhiệm, tinh-vi, lưu truyền hết đời nọ sang đời kia, khiến cho kẻ bị áp chế mất hẳn đầu óc tự-do, không biết là chuyên-chế nữa.” Thể chế mà Ngô Tất Tố đã nhận định là “khôn-khéo nhất và đáng sợ nhất” chính là “những xiềng-xích về văn-chương.”

Không nho sinh nào vác lều chõng đi thi mà lại không biết đến “trường-qui”. Trường-qui ấn định cách thức viết chữ nho và viết các bài văn. Hễ phạm trường-qui thì dù có viết văn hay đến đâu cũng bị đánh hỏng.

Ngoài trường-qui, thí sinh còn phải nhớ đến việc kỵ huý tức là kiêng những chữ tên vua và hoàng gia: trọng huý là kiêng những chữ tên vua, khinh huý là kiêng những tên của thân mẫu hay bà cô, ông chú của vua. Khi dùng những chữ khinh huý, phải viết thiếu một nét, còn những chữ trọng huý hoàn toàn bị cấm dùng. Triều Nguyễn có khoảng năm mươi chữ kỵ huý. Nguời nào phạm khinh huý bị đóng gông phơi nắng ba ngày và bị cấm không được đi thi nữa. Người phạm tội trọng huý bị tù tội, thầy dạy như huấn đạo, giáo thụ, đốc học cũng bị phạt bổng, giáng cấp.

Ngoài ra còn hai qui luật “khiếm-đài” và “khiếm-trang” lại càng làm khó thí sinh hơn mặc dù “khiếm-trang” không có định lệ rõ ràng. Phạm vào hai qui luật này chứng tỏ sự khiếm nhã và thiếu kính trọng đối với nhà vua.

Ngô Tất Tố, tác giả quyển Lều Chõng (1941), đã từng đi thi khi khoa cử nho học hãy còn hiện hành. Ông hiểu rất rõ sự áp chế thường xuyên đối với người đi học. Khi ra đời, cầm đến bút, sự áp chế này đi theo nhà văn như lưỡi kiếm Damoclès treo trên đầu họ. Văn học ngày xưa chỉ có dăm ba tác phẩm với những đề tài rất giới hạn, một số tác phẩm vô danh không có tên tác giả vì người viết không muốn bị phiền luỵ tù tội. Đó là kết quả của những xiềng-xích trong văn chương.

“Người ta thường trách các nhà văn-học nước ta ngày xưa không phát-minh được một điều gì để lại cho đời sau. Nhưng ở cái nước mà văn-học bị nhiều xiềng-xích đến vậy, con nhà văn tránh được khỏi tội đã phúc lắm rồi, thì giờ đâu mà nghĩ đến chuyện phát-minh? Chúng ta chỉ khen các cụ kiên-nhẫn sống ở cái nước như thế, mà vẫn không làm cách-mệnh!”

Hoài Thanh cũng muốn tìm hiểu như Ngô Tất Tố lý do đưa đến sự nghèo nàn trong văn chương Việt-Nam (“Thành-thực và tự-do trong văn-chương”, Tao Đàn số 6, 16 Mai 1939). Ông so sánh văn học Pháp với văn học nước ta, nhận thấy văn học sử Pháp để tên của nhiều nhà văn, mỗi nhà văn có sắc thái riêng, khác nhau từ lời văn, ý văn cho đến qaun niệm văn chương. Ông tự hỏi vì sao văn học nước ta không được phong phú rực rỡ như thế?

Lỗi thứ nhất ông nghĩ là do chế độ chuyên chế. Ông lấy thí dụ nước Đức, trong thời kỳ Hitler thi hành chính sách độc tài, các nhà văn chỉ được viết những sách ca tụng đảng,việc trước thuật trong nước kém đi, sách bán ra không ai muốn xem. Ông nhận xét rằng “Bao giờ cũng vậy, hễ chính quyền can-thiệp vào văn-học là chỉ có hại cho văn-học.”

Nhìn lại quá trình văn học nước ta, ông đã thấy như sau:

“Chế-độ chuyên-chế ở nước ta cũng không thoát được cái thông-lệ ấy. Viết văn, ngâm thơ mà có thể khép vào tội yêu thư, yêu ngôn, rồi bị tù, bị chém, thì văn thơ cũng đến cạn nguồn! Sự chuyên-chế về chính-trị ở đây còn tệ hơn vì nó kèm theo nhiều thứ chuyên-chế khác nữa, trong đó tai hại nhất là phép[1]tắc làm văn, những thứ phép-tắc hẹp-hòi và phiền-phức làm sao!”

Sự phiền phức trong phép làm văn, những sự phạm trường-qui vì trọng huý, khinh huý đã được Ngô Tất Tố trình bày.

Ngoài sự chuyên chế về chính trị và trong văn chương, Hoài Thanh còn nhận thấy một yếu tố nữa quan trọng không kém ảnh hưởng đến sự phát triển văn học: dư luận xã hội. Xã hội Việt-Nam xưa rất khắt khe, không chấp nhận những gì ra ngoài khuôn khổ truyền thống: luân lý đạo đức phải nằm trong vòng nho-giáo, tín ngưỡng chỉ có đạo Phật, đạo Lão, đa số phong tục thì theo Trung-Hoa.

Với chủ nghĩa gia tộc, xã hội Việt-Nam không tôn trọng bản sắc của cá nhân. Có quá nhiều mối quan hệ chặt chẽ ràng buộc mọi người trong xã hội khiến đưa đến hiện tượng “Cá-nhân chìm lấp trong đoàn-thể như giọt nước trong làn sóng biển.”

Nhà văn phải sống trong sự áp chế của pháp luật, sự kiềm toả của dư luận, lại phải chịu sự thúc bách của việc sinh kế, cho nên làm nhà văn thời xưa thật là một việc rất khó khăn. Cũng vì bị ràng buộc trong cái khuôn nên văn chương nước Việt từ trước đến nay thường đi chung với sự giả dối, sự bịa đặt. Khuynh hướng của nhà văn ngày trước là viết thế nào cho hợp với ý muốn của xã hội chứ không cần đúng sự thật. Hoài Thanh hy vọng sẽ có một “dư-luận hết sức rộng-rãi với nhà-văn. Rộng-rãi không phải là hoan-nghênh vô-luận sách gì, những sách kiệt-tác cũng như những sách viết không thành câu. Rộng-rãi nghĩa là không bắt-buộc nhà-văn phải bó mình trong một đạo-đức, một tôn-giáo hay một đảng phái.”

Hoài Thanh mong rằng khi nhà văn không bị những sự kiềm chế, họ sẽ không phải viết một cách giả dối nữa. Họ sẽ viết một cách thành thực những điều cảm xúc, suy nghĩ của họ. Nhờ có tự do, họ sẽ thi thố mọi khả năng của họ mà không phải e dè điều gì. Chính khả năng của họ sẽ tạo nên giá trị cho tác phẩm của họ. “Nếu ta có tài thì tác-phẩm của ta sẽ sống, bằng không chẳng có sự bày đặt gì, chẳng có phép tắc gì thay được sự bất tài của ta.”

Để kết luận, Hoài Thanh khẳng định: “Thành-thực cũng như tự-do là một điều kiện cốt-yếu để gây nên nền văn-chương phong-phú.”

Cuối thập niên 1930, giới trí thức đã hiểu được sự cần thiết của tự-do. Hơn ai hết và hơn lúc nào hết, họ đã nhận ra những sự thiệt hại mà chính thể chuyên chế gây ra. Chỉ có tự-do mới cho người ta cơ hội phát triển toàn thể bản sắc của con người. Giới trí thức, nhất là những người cầm bút, sẽ là những người thiết tha hơn cả trong việc tranh đấu cho tự-do tư-tưởng và tự-do ngôn-luận. Đi cùng đường với tự[1]do, chỉ có thể là chủ-nghĩa cá-nhân.

Ngô Thị Quý Linh

  • (Lịch Sử Việt-Nam từ thuộc Pháp đến Độc Lập 1858-1945, Ý Linh xuất bản, 2002, Hoa Kỳ
    • VĂN HỌC VIỆT NAM THẬP NIÊN 1930 – © Ngô Thị Quý Linh 2002

    Dời, Rời hay Bỏ

    Một câu hỏi được nêu ra khi nào dùng Dời, Rời hay Bỏ đã được tranh cãi khi một người viết: “Nguyên Nhân Người Việt Dời Việt Nam Đi Tỵ Nạn

    Một quan niệm cho rằng phải dùng “Nguyên Nhân Người Việt BỎ Việt Nam Đi Tỵ Nạn“. Vì chữ BỎ nói lên được hoàn cảnh và thực chất của cuộc ra đi ngày 30/4 /1075.

    Một quan niệm khác cho rằng BỎ là dứt khoát không nghĩ ngày trở về. Nên RỜI hợp lý, hợp tình hơn vì người Việt luôn mong trở lại quê hương Việt Nam, ít nhất là trong tư tưởng của người viết câu đó.

    Có lẽ lích sử đã được nhìn khác nhau ngay cả những người cùng một phía nói gỉ được nhìn từ hai phía QUỐC CỘNG.

    Quý vị nghĩ sao?