VĂN HỌC VIỆT NAM THẬP NIÊN 1930

Ngô Thị Quý Linh

Trong giới trí thức thời thuộc Pháp, nhiều người đã đi tiên phong trong một số phạm vi khai triển tri thức. Những công trình trước tác của họ được xem như là những tác phẩm quốc-ngữ đầu tiên trong những thể loại văn học như lịch sử (Việt-Nam Sử-lược của Trần Trọng Kim), triết học (Nho-giáo của Trần Trọng Kim), văn hoá (Việt-Nam Văn-hóa Sử-cương của Đào Duy Anh), văn xuôi đoản thiên tiểu thuyết (Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học), văn xuôi truyện dài (Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách), văn thơ lãng mạn (Tương Phố), văn tả chân (Vũ Trọng Phụng), văn vần (Tình Già của Phan Khôi), giáo khoa (những sách văn học và văn học sử của Dương Quảng Hàm), phóng sự…

Nhờ phương tiện truyền thông mới là báo chí, lớp trí thức tân học đã ảnh hưởng đến một số đông người hơn ngày xưa khi các bản văn truyện còn phải chép tay rồi chuyền cho nhau đọc. Giới trí thức đã dùng báo, rồi về sau là sách, để truyền bá những tư tưởng của họ.

Về phương diện thi ca, thời kỳ bộc phát của “thơ mới” được xem như khởi đầu với bài thơ Tình Già của Phan Khôi (Phụ Nữ Tân Văn, 10 Mars 1932, Sài-gòn). Qua bài thơ này, Phan Khôi chỉ có ý định dùng một lối thơ nào có thể diễn tả được hết tư tưởng của mình, chứ chưa đặt ra vấn đề “thơ mới thơ cũ”. Ông dự định “đem ý thật có trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu có vần mà không bó buộc bởi niêm luật gì hết” (Hoài Thanh, Thi-nhân tiền-chiến).

Thời ấy, thơ Đường-luật là lối thơ khá thịnh hành đang bị giới trí thức trẻ như Trịnh Đình Rư chê: “lối thơ Đường-luật bó buộc người làm thơ phải theo cái khuôn phép tỉ mỉ, mất cả cái hứng thú tự do, cái ý tưởng dồi dào. Nếu ngày nay ta cứ sùng thượng cái thơ ấy mãi, thì làng văn Nôm ta sẽ chắc không có ngày đổi mới được vậy.” (Phụ Nữ TânVăn, số 33, 19 Décembre 1929)

Chẳng phải trên phương diện văn học không thôi mà bất cứ phương diện nào cũng thế, nếu chỉ có một khuôn mẫu để theo thì dễ đi đến trì trệ, bế tắc. Thi ca cũng như văn chương cần trải qua những sự thử thách để đem lại những sự sáng tạo mới.

Mùa thu năm 1932, Phong-Hóa khẳng định thái độ đối với “thơ mới”: “Thơ ta phải mới, mới văn-thể, mới ý-tưởng”. Từ dạo đó trở đi, Phong-Hóa đăng những bài thơ mới của nhiều thi sĩ như Lưu Trọng Lư, Tân Việt, Thế Lữ, Tứ Ly, Nhất Linh, Vũ Đình Liên, Đoàn Phú Tứ, Huy Thông.

Giữa năm 1933, cô Nguyễn Thị Kiêm, một nữ sĩ có tài diễn thuyết, đã tán dương “thơ mới” trên diễn đàn Hội Khuyến-học Sài-Gòn.

Nhà thơ đầu tiên chú ý đến “thơ mới” một cách nhiệt tình là Lưu Trọng Lư, tác giả tập thơ Tiếng Thu. Thi sĩ không thể chịu đựng nổi sự bó buộc của các lối thơ cổ. Đối với Lưu Trọng Lư, cái tình cảm dồi dào của người nay không thể khép vào trong những niêm luật khắc khổ được. Thi sĩ đồng ý với Lanson là người đã nói rằng: “À des états d’âmes nouveaux, des genres nouveaux”. (Với những cái tâm trạng mới, phải có những văn thể mới, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, 1er Décembre 1934)

Lưu Trọng Lư công nhận “(…) cái điệu thơ thật có quan hệ đến bài thơ. Sống ở trong cuộc đời mới mẻ, lòng thấy vài cái tình cảm khác khác, mà muốn diễn tả ra cho hết, không thể không tìm đến những cái điệu rộng rãi, mềm mại hơn.” (Tiểu Thuyết Thứ Bảy, 15 Décembre 1934) Vì thế, chính thi sĩ đã nhận thấy rằng phải đổi hình thức của thơ cho phù hợp với những cảm xúc của con người. “Hình thức của thơ phải mới, mới luôn, cho hợp với tâm hồn của ta, cái tâm hồn phiền phức của ta, trong khi tiếp xúc với hoàn cảnh mới, lại càng thêm phiền phức…” (Tiểu Thuyết Thứ Bảy, 19 Janvier 1935)

Nguyễn Vỹ đi xa hơn trong hình thức “thơ mới” khi ông chọn làm thơ theo kiểu “mười chân” và “mười hai chân”. Ông bị Thế Lữ chế giễu và chê ông “mang cái gông cùm mới của luật thơ Tây”, nhưng được Lê Tràng Kiều bênh vực rằng dù Nguyễn Vỹ đóng góp “một mảnh vôi nhỏ” trong việc xây đắp “tòa lầu Nghệ-Thuật” cũng là đáng quý rồi. Lê Tràng Kiều đã lấy bài Sương Rơi của Nguyễn Vỹ, với những câu thơ chỉ có hai chữ, diễn tả “nhạc điệu thiên nhiên của những vật vô hình và hữu hình ở trong vũ trụ lúc đêm khuya” để chứng tỏ công đóng góp của thi sĩ vào “tòa lầu Nghệ-Thuật”.

Năm 1934, Nguyễn Vỹ và Trương Tửu đề xướng một qui luật cho thơ mới, gọi là “Trường thơ Bạch Nga”. Trên diễn đàn hội quán Hội Khai-trí Tiến-đức bên bờ hồ Hoàn-kiếm, Trương Tửu đã diễn thuyết về thơ Bạch-nga trước một số khán giả rất đông, gồm cả phụ nữ, thanh niên, học sinh, văn nghệ sĩ. Sự hiện diện đông đảo của công chúng đủ cho thấy sự háo hức của họ đối với “thơ mới”.

Đến năm 1936, “thơ mới” đã chiếm được ưu thế trong làng thơ. Rất nhiều thi phẩm đã được sáng tác trong thời gian ba năm, từ năm 1933 đến năm 1936, của “cuộc cách mệnh về thi ca” theo nhận định của Lê Tràng Kiều. Nhiều bài “thơ mới” sau đó được phổ nhạc và trở thành phổ thông: Thơ Sầu Rụng và Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư, Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp, Cô Hái Mơ và Cô Lái Đò của Nguyễn Bính, v.v… “Thơ mới” từ đó đã được chấp nhận chẳng khác gì thơ cổ-điển, miễn là công chúng thấy hay!

Về văn chương, khi Phạm Quỳnh có ý kiến “Bàn về tiểu-thuyết” (Tiểu-thuyết là gì và phép làm tiểu-thuyết thế nào, Nam Phong, Janvier 1921), ý muốn của ông là giúp cho nghệ thuật viết tiểu thuyết được hay hơn. Ông định nghĩa tiểu thuyết, phân loại hình thức, chỉ dẫn cách kết cấu, so sánh cách hành văn của Trung-Hoa và Pháp để tìm cách phô diễn tư tưởng. Ông chia tiểu thuyết ra làm mấy loại như sau:

– “lý-luận tiểu-thuyết” (romans à thèses)

– “ tiểu-thuyết ngôn-tình” (romans passionnels)

– “tiểu-thuyết tả-thực” (romans de moeurs)

– “tiểu-thuyết truyền-kỳ” (romans d’aventures)

Về hình thức, có thể phân biệt: trường-thiên tiểu-thuyết, đoản-thiên tiểu-thuyết (nouvelle), nhàn[1]đàm tiểu-thuyết (conte).

Trong số những nhà văn đi tiên phong về tiểu thuyết, có Nguyễn Bá Học và Phạm Duy Tốn khởi đầu bằng những truyện ngắn đăng trên Nam Phong. Theo ý kiến của Vũ Ngọc Phan, tuy các truyện ngắn của hai ông hãy còn nhiều khuyết điểm, cả hai ông đã được Vũ Ngọc Phan (Nhà Văn Hiện Đại, 1941) xem như là những nhà viết truyện ngắn đầu tiên theo lối mới, thoát ra ngoài khuôn sáo cũ của văn chương Trung-Hoa thời xưa.

Năm 1925, quyển tiểu thuyết Quả Dưa Đỏ của Nguyễn Trọng Thuật được giải văn chương của Hội Khai-trí Tiến-Đức. Hai quyển tiểu thuyết khác cũng được chọn là Kim-Anh lệ-sử của Trọng Khiêm và Nho-phong của Nguyễn Tường Tam.

Được chú ý hơn cả trong thời kỳ này là quyển Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, xuất bản năm 1925. Với một cách kết cấu khéo léo hơn những truyện ngắn đầu tiên của các tác giả khác, Hoàng Ngọc Phách đã làm say mê giới trẻ đương thời vì đã diễn tả được tâm trạng bồng bột yêu đương của thanh niên thiếu nữ thời đó. Các nhà mô phạm, các bậc phụ huynh càng công kích Tố Tâm, càng làm cho nhiều người đọc truyện đó, học trò chuyền tay nhau đọc một cách say mê.

Những nhà viết tiểu thuyết đầu tiên đã phải đi tìm một hướng đi mới mẻ, đặc sắc mà lại thích hợp với thị hiếu của quần chúng, một thị hiếu luôn luôn thay đổi với thời đại. Để hiểu được thị hiếu của quần chúng, nhà văn sẽ phải sống hòa mình với dân chúng vì quan niệm về tiểu thuyết ngày nay đã khác trước rồi.  “Tiểu thuyết phải gần đời, phải là đời với những lúc sướng lúc khổ, phải có những cái nhỏ nhen, tầm thường, cao thượng của đời, phải có những cái đáng thương, những cái buồn cười, những cái bực tức.” (Khái Hưng, Câu chuyện hằng tuần, Ngày Nay, số 180)

Thập niên 1930 thực sự là thời kỳ nở rộ của văn học Việt-Nam. Sau Hoàng Ngọc Phách, trong Nam có Hồ Biểu Chánh rất nổi tiếng với những tiểu thuyết có tính chất bình dân từ nhân vật đến lời văn. Truyện của ông đăng trong Phụ-nữ tân-văn và lôi cuốn được rất nhiều độc giả. Ở Bắc, về loại tiểu thuyết tả chân có Nguyễn Công Hoan, Vũ Bằng, Nguyễn Đình Lạp, Tô Hoài; về tiểu thuyết xã hội có Nguyên Hồng, Trương Tửu,Thạch Lam, Đỗ Đức Thu, Nguyễn Vỹ, v.v…; về tiểu thuyết phong tục có Khái Hưng, Trần Tiêu, Mạnh Phú Tư, Bùi Hiển, Thiết Can; về tiểu thuyết luận đề, có Nhất Linh, Hoàng Đạo; về tiểu thuyết luân lý có Lê Văn Trương; về tiểu thuyết truyền kỳ có Lan Khai, Đái Đức Tuấn; về tiểu thuyết phóng sự có Chu Thiên; về tiểu thuyết hoạt kê có Đồ Phồn; về tiểu thuyết trinh thám có Thế Lữ, Phạm Cao Củng; về truyện ký và lịch sử ký sự có Phan Trần Chúc, …

Ngoài những thể loại tiểu thuyết, còn có những thể loại văn chương mới đã được các nhà văn sử dụng: bút ký với Nguyễn Tuân, Phùng Tất Đắc; phóng sự với Vũ Đình Chí, Vũ Trọng Phụng,Trọng Lang, Ngô Tất Tố; phê bình với Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan; kịch với Vũ Đình Long, Vi Huyền Đắc, Đoàn Phú Tứ, Khái Hưng; biên khảo có Phạm Quỳnh,Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Lê Dư, Nguyễn Văn Ngọc, Đào Duy Anh, …

Trần Trọng Kim được xem là người đầu tiên soạn ra một cuốn sách sử Việt-nam bằng quốc-ngữ có giá trị, ở một thời kỳ mà “sử học nước ta vẫn còn khuyết điểm nhiều lắm: cái phương pháp khoa học dùng để tìm kiếm tài liệu đã chưa có, mà cả đến luật lệ nhứt định cho sử gia, cùng với triết học của lịch sử cũng thiếu nữa. (…) Tôi quyết đoán rằng sau ông Trần sẽ có nhiều sử gia hoàn toàn hơn ông. Song hiện nay tôi mới thấy bộ Việt-nam Sử-lược là hơn hết, chẳng những là một bộ sách giáo khoa về lịch sử có giá trị, mà còn là một bộ sử ký của khắp cả những ai muốn rõ lịch sử nước nhà.” (Thiếu Sơn, Phụ-nữ Tân[1]văn, số 97, 27 Aout 1931)

Mặc dù sau đó có một số sách sử giáo khoa, các sách sử Việt hãy còn nhiều khiếm khuyết. Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố đóng góp ý kiến về việc viết lịch sử Việt-Nam. Theo Ứng-Hòa, ngoài việc tìm và đọc sử liệu, người viết sử còn phải biết lọc lựa, sát hạch và phê phán. Trong khi làm việc, cần đối chiếu tài liệu, không nên tin ngay vào một quyển sách nào vì có những chi tiết hoặc truyện bịa đặt chứ chưa chắc đã là thực.

Nguyễn Văn Tố cho rằng nhà viết sử còn cần phải là một nhà khảo cổ, tra cứu trong những quyển du ký của những người ngoại quốc để tránh những tư tưởng bất công đối với một triều đại nào. Nhà viết sử ngày nay không chỉ chép lại những công việc của triều đình và vua chúa mà còn phải tìm hiểu cả đến những sự sinh hoạt trong toàn xã hội. Muốn viết một bộ sử ký hoàn bị, nhà viết sử cần khảo cứu thêm về “nhân-loại-học, cổ-điển-học, minh-văn-học, cổ-tục-học, v.v…”

Hoài Thanh chú ý đến quyển Việt-nam Văn-hóa Sử-cương của Đào Duy Anh khi quyển này vừa được xuất bản. Ông công nhận đây là quyển sách khảo cứu đầu tiên về văn hoá Việt-Nam. Sách không chú trọng về chính trị hưng suy của các triều vua như những sách sử khác mà cho thấy “sự sinh hoạt tinh thần và vật chất của toàn thể nhân dân trong mấy mươi thế kỷ, sự cố gắng vĩ đại của tổ tiên ta để giành lấy sống còn cho chủng tộc.”

Công chúng Việt-Nam thờ ơ đối với sách khảo cứu. Họ đọc sách để giải trí, để giết thì giờ. Sách này của Đào Duy Anh ra đời mà dư luận hết sức “lạnh lùng”. Hoài Thanh thấy phải giải thích cho công chúng hiểu rằng loại sách khảo cứu cần thiết cho sự xây dựng một cuộc đời độc lập cho dân tộc Việt[1]Nam.

“Tôi vẫn biết tiểu-thuyết và thi ca – những tiểu-thuyết và thi ca có giá-trị – là quan hệ. Nhưng vận[1]mệnh một dân-tộc không phải chỉ ở trong mấy quyển truyện và mấy bài thơ. Ta phải có những người chuyên tâm nghiên-cứu về tất cả các vấn-đề quan-hệ đến tương-lai, hiện-tại và quá-khứ của dân-tộc.” (Nhân xem quyển “Việt-nam Văn-hóa Sử-cương”, Tao Đàn, số 11, 16 Aout 1939)

Hoài Thanh là người chú trọng đến “ý-nghĩa và công-dụng của văn-chương” (Tao Đàn, số 7, 1er Juin 1939). Ông thấu hiểu sự cần thiết của văn chương trong đời sống con người và đòi hỏi nhà văn phải quên mình đi để sáng tạo.

“Văn-chương gây cho ta những tình-cảm ta không có, luyện những tình-cảm ta sẵn có, cuộc đời phù-phiếm và chật-hẹp của cá-nhân vì văn-chương mà trở nên thâm-trầm và rộng-rãi đến trăm nghìn lần. (…) Vậy thì văn-chương, cứ làm tròn nhiệm-vụ tự-nhiên của nó cũng đã có ích rồi. Nó trau dồi, tô-điểm cho đời người và trao cho cuộc đời một ý-nghĩa sâu, rộng. (…) Và văn-chương đâu có phải là một trò chơi phù-phiếm. Nếu ở đời này có một điều nghiêm-trọng vì luôn luôn đi bên cạnh những sự huyền-bí bao trùm người ta và vũ-trụ, điều ấy là văn-chương.”

Thời này, chưa có trường dạy viết văn. Mỗi nhà văn phải sửa chữa lấy bài vở của mình, nghĩa là tự phê bình văn thơ mình. Sau khi tác phẩm xuất hiện ngoài công chúng, có các nhà phê bình đóng vai “ngự-sử trên văn-đàn” giúp cho độc giả hiểu rõ tác giả và tác phẩm hơn đồng thời giúp cho tác giả một cơ hội nữa để sửa chữa những khuyết điểm trong việc sáng tác của mình. Quan trọng hơn nữa đối với nhà văn là những lời chỉ dẫn giúp cho nghệ thuật viết văn được hoàn toàn hơn.

Thạch Lam đã lược dịch “Lời khuyên bảo những người mới viết văn” của Ch. Beaudelaire và J. Prévost (Ngày Nay, số 215 và 216, 13 và 20 Juillet 1940). Trong khoảng hai năm 1939 và 1940, ông viết ra một “Vài ý nghĩ về văn chương” sau này được xuất bản trong một tập sách nhỏ lấy tựa là Theo Giòng.

Thạch Lam có những nhận xét tinh tế đối với nghệ thuật viết văn. Chán những cách tả cảnh sáo cũ và vô vị, ông nhắc nhà văn nhà thơ phải nhìn ra cái đẹp ở những nơi bất ngờ, khám phá ra những điều mới để cho người khác được biết và thưởng thức. Thay vì ca tụng hoa và liễu như các thi sĩ đời xưa, ông đã tìm thấy nhiều cái đẹp khác của vạn vật như cái mầm đầy nhựa, những búp lá mới non, cái vui sướng của mầm cây từ dưới đất nhô lên đón ánh mặt trời, cái rung động của ngàn lá trong làn gió mát.

Ông còn nhận thấy sự thành thật giúp cho truyện thêm hay. Những truyện luân lý xưa không làm chúng ta cảm động vì các nhân vật trong truyện hoàn toàn quá, cũng có nghĩa là giả tạo quá. Họ không có khuyết điểm, họ không có những sự yếu đuối và băn khoăn như con người thật. Họ thuộc về một thế giới riêng chứ không giống chúng ta. Chính cách xây dựng nhân vật như thế đã không cảm động được ta.

Một quyển sách truyện hay theo quan niệm xưa phải mang tính chất đạo đức nho giáo. Hễ quyển truyện nào không có yếu tố này tức nhiên bị chê bai. Đó cũng là một trong những lý do bất đồng về Truyện Kiều giữa Phạm Quỳnh và Ngô Đức Kế. Phạm Quỳnh khen Truyện Kiều là một áng văn hay theo quan niệm nghệ thuật, còn Ngô Đức Kế chê Truyện Kiều vì truyện không phải là một tấm gương luân lý cho người đời noi theo.

Trúc Hà nhận thấy Tố Tâm ra đời mà không được hoan nghênh công khai “Bởi vì Tố Tâm ra đời hơi sớm một chút, ra đời giữa cái lúc luân lý đạo đức cũ còn mạnh và cái quan niệm mỹ thuật của người mình lại không giống với người Tây phương.” (Phụ-nữ Tân-văn, 16 Janvier 1933)

Khuynh hướng tách rời luân lý ra khỏi phạm vi văn chương đã đưa đến cuộc tranh cãi “nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh.”

Những người chủ trương thuyết nghệ thuật vị nhân sinh cho rằng “văn-chương không được vô[1]tư-kỷ, phải bổ ích cho người đời, còn văn hay, lời đẹp là phần phụ thuộc.” (Thiều Quang Lê Quang-Lộc, Nghệ-thuật với văn-hóa, Tao Đàn, số 1, 1er Mars 1939)

Trong số những người phản đối chủ trương nghệ thuật vị nhân sinh, có người đã đưa lý lẽ rằng “văn-chương tự nó biến hóa theo xã hội” và “văn-chương phải được hoàn-toàn tự-do, phải thành-thực và phải phát sinh ở cảm-xúc.” (Thiều Quang)

Với Lan Khai, văn chương chỉ cần có một đối tượng duy nhất là “Người, con người trước Thời[1]gian và Vũ-trụ” (Bàn qua về nghệ-thuật, Tao Đàn, số 7, 1er Juin 1939). Sự phân loại trong văn chương thành ra cổ điển, lãng mạn, tả thực chỉ có tính cách hình thức vì mục đích của văn chương lúc nào cũng chỉ là dùng để “phô diễn con người, nạn-nhân vĩnh-viễn của xã-hội, của yếu-hèn, của đau-khổ và của sự chết. Diễn-tả cho đúng hệt con người, nghệ-thuật văn-chương đã đạt được mục-đích và do đấy, có thể trở nên thứ nghệ-thuật văn-chương muôn đời vậy.”

Tính chất thành thực là một yếu tố rất quan trọng trong sự sáng tác vì “không thành-thực với cảm-xúc, nhà văn chỉ có thể sản xuất ra một thứ văn-chương giả-dối” (Thiều Quang). Muốn diễn tả cho thành thực, nhà văn cần có một điều kiện: nhà văn phải được hoàn toàn tự do. Nếu họ bị bắt buộc phải làm việc trái với bản chất tự nhiên của họ, như vậy là “ép họ sản xuất ra một thứ văn-chương điêu trá.”

Giới trí thức thời đó, nhất là những người cầm bút, đều biết đến André Gide. Gide là nhà văn hào Pháp có cảm tình với chủ nghĩa cộng sản trong thập niên 1930. Tuy không gia nhập Association des Ecrivains et Artistes révolutionnaires, Gide vẫn tham dự vào Comité de patronnage của tờ Commune, tạp chí của Hội Văn Nghệ Sĩ Cách Mạng.

Gide được mời sang Mạc-tư-khoa (Moscow) vào tháng Sáu năm 1936 và được trọng đãi như thượng khách. Nga-xô lúc ấy được xem là “thiên đường của thợ thuyền” và là nơi qui tụ nhiều thanh niên ưu tú khắp thế giới. Cũng như nhiều người đương thời, Gide tin tưởng những chương trình cải cách xã hội của Nga-xô là giải pháp cho những sự rối loạn trong xã hội tư bản. Gide tưởng tượng Nga-xô như một cường quốc phát triển cả về kinh tế và xã hội, về giáo dục cũng như văn hóa.

Dời Mạc-tư-khoa trở về Pháp, Gide vội vàng cho xuất bản quyển Retour de l’URSS tháng Mười cùng năm, trong đó Gide nói đến sự nghèo nàn trong đời sống vật chất và tinh thần của người dân Nga. Mặc dù được tiếp đón nồng nhiệt, Gide vẫn cảm thấy được cái không khí u uất bao bọc chung quanh: thay vì gặp những công dân tự do, Gide nhìn thấy những con người nô lệ đã bị tẩy não, lúc nào cũng sống trong áp chế và sợ hãi, và phải tôn sùng Staline. Gide thành thực nói lý do tại sao ông phải viết quyển sách này: “đối với tôi, có những việc rất hệ-trọng, hệ-trọng hơn cả tính-mệnh tôi, hơn cả nước Nga nữa, ấy là Nhân-loại, nhân-loại với số-mệnh, với văn-hóa của nó.” (Lưu Trọng Lư, “Con đường riêng của trí[1]thức, Để đáp các ông Phan văn-Hùm, Trần Huy-Liệu, Bùi Công-Trừng, Hải-Triều và Trương-Tửu”, Tao Đàn số 6, 16 Mai 1939)

Theo như Gide nhận xét, “nước Nga, với cái phương pháp giáo-hóa hiện hành đã chôn sâu cá-tính của người Công-Dân và nhất là đã cướp quyền tự do thiêng liêng của nhà văn sĩ.” (Thiều Quang)

Nhiều người đã cho rằng Gide bị kẻ thù địch với chủ nghĩa cộng sản mua chuộc. Họ chế giễu, bôi nhọ, và cho rằng Gide là “kẻ phản động”. Lưu Trọng Lư đã bào chữa cho Gide. Ông bảo không nên phê bình Gide trên lập trường chính trị mà nên đứng trên phương diện “người” để phán đoán về Gide.

Lưu Trọng Lư đã cho rằng sự “khác người” của Gide phải trả giá đắt quá. Giá mà Gide phải trả là bị đảng trừng phạt, mất thế lực đối với thanh niên đương thời, mất sự hâm mộ của quần chúng. Nhưng Gide đã theo tiếng gọi của lương tâm, thành thực nói lên những điều ông nghĩ: Gide đã đi một con đường riêng, con đường của một nhà trí thức.

Con đường này là con đường hướng đến tương lai, hướng đến tiến bộ và nhiều khi khác với khuynh hướng của quần chúng. Nhưng Gide không nao núng vì ông hiểu rõ giá trị của người cầm bút. “Cái giá trị chính thức của nhà văn là ở cái thái độ phản đối, ở cái tinh-thần bất mãn của họ. Bất cứ ở một xã hội nào, nhà văn bao giờ chẳng là kẻ bơi ngược giòng?”

 Sự áp chế đối với nhà văn ở Nga thời đó đã từng xảy ra ở nước ta trong thời quân chủ chuyên chế. Ngô Tất Tố đã nhận xét về sự chuyên chế trong phạm vi văn chương đời trước mà ông gọi là Những xiềng xích của văn-chương ngày xưa (Tao Đàn số 2, 16 Mars 1939). Theo Ngô Tất Tố, trong sự chuyên chế Tây phương, người dân có thể bị chém, bị giết, bị giam cầm, bị cấm tự do ngôn luận tuỳ theo triều đại vua tàn bạo hay không. Sự chuyên chế ở phương Đông không những bao gồm cả những sự tàn nhẫn vô lý trên lại còn đặt ra một thể chế “rất mầu-nhiệm, tinh-vi, lưu truyền hết đời nọ sang đời kia, khiến cho kẻ bị áp chế mất hẳn đầu óc tự-do, không biết là chuyên-chế nữa.” Thể chế mà Ngô Tất Tố đã nhận định là “khôn-khéo nhất và đáng sợ nhất” chính là “những xiềng-xích về văn-chương.”

Không nho sinh nào vác lều chõng đi thi mà lại không biết đến “trường-qui”. Trường-qui ấn định cách thức viết chữ nho và viết các bài văn. Hễ phạm trường-qui thì dù có viết văn hay đến đâu cũng bị đánh hỏng.

Ngoài trường-qui, thí sinh còn phải nhớ đến việc kỵ huý tức là kiêng những chữ tên vua và hoàng gia: trọng huý là kiêng những chữ tên vua, khinh huý là kiêng những tên của thân mẫu hay bà cô, ông chú của vua. Khi dùng những chữ khinh huý, phải viết thiếu một nét, còn những chữ trọng huý hoàn toàn bị cấm dùng. Triều Nguyễn có khoảng năm mươi chữ kỵ huý. Nguời nào phạm khinh huý bị đóng gông phơi nắng ba ngày và bị cấm không được đi thi nữa. Người phạm tội trọng huý bị tù tội, thầy dạy như huấn đạo, giáo thụ, đốc học cũng bị phạt bổng, giáng cấp.

Ngoài ra còn hai qui luật “khiếm-đài” và “khiếm-trang” lại càng làm khó thí sinh hơn mặc dù “khiếm-trang” không có định lệ rõ ràng. Phạm vào hai qui luật này chứng tỏ sự khiếm nhã và thiếu kính trọng đối với nhà vua.

Ngô Tất Tố, tác giả quyển Lều Chõng (1941), đã từng đi thi khi khoa cử nho học hãy còn hiện hành. Ông hiểu rất rõ sự áp chế thường xuyên đối với người đi học. Khi ra đời, cầm đến bút, sự áp chế này đi theo nhà văn như lưỡi kiếm Damoclès treo trên đầu họ. Văn học ngày xưa chỉ có dăm ba tác phẩm với những đề tài rất giới hạn, một số tác phẩm vô danh không có tên tác giả vì người viết không muốn bị phiền luỵ tù tội. Đó là kết quả của những xiềng-xích trong văn chương.

“Người ta thường trách các nhà văn-học nước ta ngày xưa không phát-minh được một điều gì để lại cho đời sau. Nhưng ở cái nước mà văn-học bị nhiều xiềng-xích đến vậy, con nhà văn tránh được khỏi tội đã phúc lắm rồi, thì giờ đâu mà nghĩ đến chuyện phát-minh? Chúng ta chỉ khen các cụ kiên-nhẫn sống ở cái nước như thế, mà vẫn không làm cách-mệnh!”

Hoài Thanh cũng muốn tìm hiểu như Ngô Tất Tố lý do đưa đến sự nghèo nàn trong văn chương Việt-Nam (“Thành-thực và tự-do trong văn-chương”, Tao Đàn số 6, 16 Mai 1939). Ông so sánh văn học Pháp với văn học nước ta, nhận thấy văn học sử Pháp để tên của nhiều nhà văn, mỗi nhà văn có sắc thái riêng, khác nhau từ lời văn, ý văn cho đến qaun niệm văn chương. Ông tự hỏi vì sao văn học nước ta không được phong phú rực rỡ như thế?

Lỗi thứ nhất ông nghĩ là do chế độ chuyên chế. Ông lấy thí dụ nước Đức, trong thời kỳ Hitler thi hành chính sách độc tài, các nhà văn chỉ được viết những sách ca tụng đảng,việc trước thuật trong nước kém đi, sách bán ra không ai muốn xem. Ông nhận xét rằng “Bao giờ cũng vậy, hễ chính quyền can-thiệp vào văn-học là chỉ có hại cho văn-học.”

Nhìn lại quá trình văn học nước ta, ông đã thấy như sau:

“Chế-độ chuyên-chế ở nước ta cũng không thoát được cái thông-lệ ấy. Viết văn, ngâm thơ mà có thể khép vào tội yêu thư, yêu ngôn, rồi bị tù, bị chém, thì văn thơ cũng đến cạn nguồn! Sự chuyên-chế về chính-trị ở đây còn tệ hơn vì nó kèm theo nhiều thứ chuyên-chế khác nữa, trong đó tai hại nhất là phép[1]tắc làm văn, những thứ phép-tắc hẹp-hòi và phiền-phức làm sao!”

Sự phiền phức trong phép làm văn, những sự phạm trường-qui vì trọng huý, khinh huý đã được Ngô Tất Tố trình bày.

Ngoài sự chuyên chế về chính trị và trong văn chương, Hoài Thanh còn nhận thấy một yếu tố nữa quan trọng không kém ảnh hưởng đến sự phát triển văn học: dư luận xã hội. Xã hội Việt-Nam xưa rất khắt khe, không chấp nhận những gì ra ngoài khuôn khổ truyền thống: luân lý đạo đức phải nằm trong vòng nho-giáo, tín ngưỡng chỉ có đạo Phật, đạo Lão, đa số phong tục thì theo Trung-Hoa.

Với chủ nghĩa gia tộc, xã hội Việt-Nam không tôn trọng bản sắc của cá nhân. Có quá nhiều mối quan hệ chặt chẽ ràng buộc mọi người trong xã hội khiến đưa đến hiện tượng “Cá-nhân chìm lấp trong đoàn-thể như giọt nước trong làn sóng biển.”

Nhà văn phải sống trong sự áp chế của pháp luật, sự kiềm toả của dư luận, lại phải chịu sự thúc bách của việc sinh kế, cho nên làm nhà văn thời xưa thật là một việc rất khó khăn. Cũng vì bị ràng buộc trong cái khuôn nên văn chương nước Việt từ trước đến nay thường đi chung với sự giả dối, sự bịa đặt. Khuynh hướng của nhà văn ngày trước là viết thế nào cho hợp với ý muốn của xã hội chứ không cần đúng sự thật. Hoài Thanh hy vọng sẽ có một “dư-luận hết sức rộng-rãi với nhà-văn. Rộng-rãi không phải là hoan-nghênh vô-luận sách gì, những sách kiệt-tác cũng như những sách viết không thành câu. Rộng-rãi nghĩa là không bắt-buộc nhà-văn phải bó mình trong một đạo-đức, một tôn-giáo hay một đảng phái.”

Hoài Thanh mong rằng khi nhà văn không bị những sự kiềm chế, họ sẽ không phải viết một cách giả dối nữa. Họ sẽ viết một cách thành thực những điều cảm xúc, suy nghĩ của họ. Nhờ có tự do, họ sẽ thi thố mọi khả năng của họ mà không phải e dè điều gì. Chính khả năng của họ sẽ tạo nên giá trị cho tác phẩm của họ. “Nếu ta có tài thì tác-phẩm của ta sẽ sống, bằng không chẳng có sự bày đặt gì, chẳng có phép tắc gì thay được sự bất tài của ta.”

Để kết luận, Hoài Thanh khẳng định: “Thành-thực cũng như tự-do là một điều kiện cốt-yếu để gây nên nền văn-chương phong-phú.”

Cuối thập niên 1930, giới trí thức đã hiểu được sự cần thiết của tự-do. Hơn ai hết và hơn lúc nào hết, họ đã nhận ra những sự thiệt hại mà chính thể chuyên chế gây ra. Chỉ có tự-do mới cho người ta cơ hội phát triển toàn thể bản sắc của con người. Giới trí thức, nhất là những người cầm bút, sẽ là những người thiết tha hơn cả trong việc tranh đấu cho tự-do tư-tưởng và tự-do ngôn-luận. Đi cùng đường với tự[1]do, chỉ có thể là chủ-nghĩa cá-nhân.

Ngô Thị Quý Linh

  • (Lịch Sử Việt-Nam từ thuộc Pháp đến Độc Lập 1858-1945, Ý Linh xuất bản, 2002, Hoa Kỳ
    • VĂN HỌC VIỆT NAM THẬP NIÊN 1930 – © Ngô Thị Quý Linh 2002

    Dời, Rời hay Bỏ

    Một câu hỏi được nêu ra khi nào dùng Dời, Rời hay Bỏ đã được tranh cãi khi một người viết: “Nguyên Nhân Người Việt Dời Việt Nam Đi Tỵ Nạn

    Một quan niệm cho rằng phải dùng “Nguyên Nhân Người Việt BỎ Việt Nam Đi Tỵ Nạn“. Vì chữ BỎ nói lên được hoàn cảnh và thực chất của cuộc ra đi ngày 30/4 /1075.

    Một quan niệm khác cho rằng BỎ là dứt khoát không nghĩ ngày trở về. Nên RỜI hợp lý, hợp tình hơn vì người Việt luôn mong trở lại quê hương Việt Nam, ít nhất là trong tư tưởng của người viết câu đó.

    Có lẽ lích sử đã được nhìn khác nhau ngay cả những người cùng một phía nói gỉ được nhìn từ hai phía QUỐC CỘNG.

    Quý vị nghĩ sao?

    Ít điều cần biết về nhà giáo dục Chu Văn An

    Tượng Chu Văn An trên bàn thờ tại Văn miếu – Quốc tử giám Hà Nội(Những chữ Hán trên đôi câu đối sẽ được giải thích ở cuối bài)

    Từ Mai Trần Huy Bích

    • Trong ít hôm vừa qua, cộng đồng mạng người Việt huyên náo hơn mức bình thường.

      Một YouTube được đưa ra, trong đó người thực hiện và trình bày đánh giá Chu Văn An, một nhà giáo dục được tôn kính từ thế kỷ 14 là “rất tệ,” là “tối,” rồi đưa tới một lời miệt thị rất nặng, “thằng cha đó là một thằng cà chớn.” Phản ứng lập tức đến từ rất nhiều phía, bộc lộ một niềm phẫn nộ tới cùng độ. Trong những phản đối ấy có một vài quá đáng, tuy lăng mạ mạnh mẽ nhưng chưa vạch được rõ người đưa ra lời phê phán đã sai ở những điểm nào. Giữa hàng trăm, hàng ngàn lời buộc tội, người viết những dòng này đọc được một lời bênh. Nhưng người bênh có một điểm sai, tưởng Chu Văn An làm đến chức Tể tướng và có quyền rất lớn trong triều Trần.

      Để đạt được một nhận định vô tư và khách quan, bài này xin được duyệt lại sử sách Việt Nam các đời trước, xem tiền nhân đã chép về Chu Văn An ra sao, cùng tìm hiểu thêm xem trong thời của ông (qua bốn triều vua Trần Minh tông, Hiến tông, Dụ tông, Nghệ tông), Chu Văn An đã có vị trí như thế nào.

      Để làm được việc ấy, chúng tôi xin chép nguyên văn hay tóm lược những đoạn viết về Chu Văn An trong:

      – Hai bộ chính sử: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (từ sau xin gọi tắt là Toàn Thư, bộ sử của nhà Lê, do Ngô Sĩ Liên và một số sử quan sau ông biên soạn), và Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (từ sau xin gọi tắt là Cương Mục, bộ sử của nhà Nguyễn, do Quốc Sử Quán triều Nguyễn biên soạn).

      – Hai bộ sử danh tiếng của học giả tư nhân: Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thời Sĩ (1726-1780), một đại thần, cũng là một trí thức, sử gia rất có danh vọng cuối đời Lê; và Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim (1883-1953), một học giả, sử gia, và nhà giáo dục có uy tín trong nửa đầu thế kỷ 20.

      – Hai bộ truyện ký: Nam Ông Mộng Lục của Hồ Nguyên Trừng (1374-1446), con trưởng của Hồ Quý Ly, sống sau Chu Văn An không bao lâu; và Tang Thương Ngẫu Lục của Phạm Đình Hổ (1768-1839) và Nguyễn Án (1770-1815), hai danh sĩ sống vào cuối thế kỷ 18 qua đầu thế kỷ 19.

      – Hai bộ sách nghiên cứu: Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, thiên “Nhân vật chí,” của Phan Huy Chú (1782-1840), một học giả uyên bác đầu triều Nguyễn; và Lược Truyện Các Tác Gia Việt Nam do Trần Văn Giáp (1902-1973), một học giả nghiêm túc cận đại làm chủ biên.

      – Chúng tôi cũng xin ghi thêm một bài về Chu Văn An trong một cuốn sách giáo khoa dành cho học sinh Việt Nam bậc Tiểu học cho tới năm 1945. Đó là cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Sơ đẳng (lớp Ba những năm sau), tác giả là bốn nhà giáo dục có uy tín trong thời kỳ Pháp thuộc: Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận.

      Trước hết, ĐVSK Toàn Thư chép về Chu Văn An như sau:

      “An (người Thanh Đàm ), tính cương nghị, thẳng thắn, sửa mình trong sạch, bền giữ tiết tháo, không cầu lợi lộc. Ông ở nhà đọc sách, học vấn tinh thông, nổi tiếng gần xa, học trò đầy cửa, thường có kẻ đỗ đại khoa, vào chính phủ… Kẻ nào xấu thì ông nghiêm khắc trách mắng, thậm chí la hét không cho vào… Minh tông mời ông làm Quốc tử giám Tư nghiệp, dạy Thái tử học. Dụ tông ham chơi bời, lười chính sự, quyền thần nhiều kẻ làm trái phép nước, An khuyên can, [Dụ tông] không nghe, bèn dâng sớ xin chém bảy tên nịnh thần, đều là những kẻ quyền thế được vua yêu. Người bấy giờ gọi là “Thất trảm sớ”. Sớ dâng lên nhưng không được trả lời, ông liền treo mũ về quê. Ông thích núi Chí Linh, bèn đến ở đấy…”

      Chu Văn An được mời ra làm quan trong đời Trần Minh tông, giữ chức Quốc tử giám Tư nghiệp. Khi mất năm 1370 trong đời Trần Nghệ tông, ông vẫn ở chức ấy. Toàn Thư chép:

      “Quốc tử giám Tư nghiệp Chu An mất, được truy tặng tước Văn Trinh công, cho tòng tự ở Văn miếu.” ¹

      (Danh hiệu ông thực ra là Chu An, sau khi mất được ban tên thụy là Văn Trinh và tặng tước Văn Trinh công. Thời xưa thường tránh nêu tên húy, nên sử sách nhiều đời gọi ông là “Chu Văn Trinh công.” Dần dần ông được quen gọi là Chu Văn An).

      Cương Mục chép như sau:

      “Chu An tính cương trực, thanh cảnh, giữ tiết khắc khổ thanh tu, không cầu danh lợi hiển đạt. Ở nhà đọc sách, học nghiệp tinh thâm, thuần túy. Gần xa nghe tiếng, đến học rất đông. Học trò nhiều người thi đậu cao, làm quan to, như Phạm Sư Mạnh và Lê Quát đã làm đến Hành khiển, thời thường lui tới thăm hỏi, vẫn cứ thụp lạy ở bên giường thày, hễ được thày nói chuyện một chút thì lấy làm mừng lắm. Hễ kẻ nào làm điều lầm lỗi trái ý thì thày quở trách ráo riết, có khi quát mắng đuổi ra…Dưới triều Trần Minh tông, ông được vời làm Quốc tử Tư nghiệp, dạy Thái tử học. Đến Trần Dụ tông ham mê chơi bời, xao lãng chính sự, bọn quyền thần làm nhiều sự trái phép. Chu An can không nghe, bèn dâng sớ xin chém bảy tên nịnh thần, đều là những kẻ có thế lực và được cưng chiều cả. Bấy giờ gọi là “Thất trảm sớ”. Sớ dâng lên, không được trả lời, Chu An liền treo trả mũ áo, trở về điền viên… Thiên hạ đều khen là người có khí tiết cao. Được tin Trần Nghệ tông lên làm vua, Chu An mừng lắm, chống gậy đến bái yết, xong lại xin về, rồi mất ở nhà. Nhà vua sai quan đến tế viếng, đặt tên thụy là Văn Trinh, được thờ phụ ở Văn Miếu.” ²

      Tác giả chính của bộ Toàn Thư, sử gia Ngô Sĩ Liên, bình luận thêm như sau:

      “Tư thế đường hoàng mà đạo làm thầy được nghiêm, giọng nói lẫm liệt mà bọn nịnh hót phải sợ… Ông thực đáng được coi là ông tổ của các nhà nho nước Việt ta mà thờ vào Văn Miếu.” ³

      Xin được bổ túc: Khi Trần Minh tông trao cho ông việc dạy Thái tử, đó là Thái tử Trần Vượng, sau nối ngôi là vua Hiến tông. Nhưng Hiến tông chẳng may mất sớm khi mới 22 tuổi, người em lên ngôi là Dụ tông. Những năm đầu của triều Dụ tông chưa suy sút lắm vì Minh tông vẫn còn trong vai Thái Thượng hoàng. Chỉ sau khi vua Minh tông qua đời, Dụ tông ham vui chơi, bỏ bê chính sự, gần bọn tiểu nhân, triều chính mới suy. Trong phần sau sẽ xin trình bày rõ hơn về những điểm ấy.

      Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thời Sĩ chép:

      “Quan Quốc tử Tư nghiệp là Chu Văn An mất, Vua sai quan dụ tế, cho tên thụy là Văn Trinh, được thờ ở Văn miếu theo hàng tiên hiền.”

      Sau khi nhắc lại những chi tiết Toàn ThưCương Mục đã nói tới, “người thanh tĩnh, giữ tiết hạnh khắc khổ, không cầu lợi lộc cao sang, chỉ ở nhà đọc sách, có nhiều học trò làm nên,” và việc “vua Dụ tông ham chơi, nhiều quyền thần làm điều phạm pháp, ông dâng sớ xin chém 7 tên nịnh thần …” Ngô Thời Sĩ cung cấp thêm chi tiết sau:

      “Khi bình xong nội nạn (chỉ việc Dương Nhật Lễ muốn dứt ngôi nhà Trần), ông mừng lắm, chống gậy lên yết mừng vua (Nghệ tông), rồi lại trở về núi.” ⁴

      Trong Việt Nam Sử Lược, học giả Trần Trọng Kim cho biết rõ hơn về tình trạng gian thần lộng hành trong triều vua Dụ tông:

      “Hiến tông không có con, Minh tông thượng hoàng lập người em tên là Hạo lên làm vua, tức là vua Dụ tông. Trong những năm Thiệu-phong, tức mười mấy năm đầu, tuy Dụ tông làm vua, nhưng quyền chính trị ở Minh tông Thượng hoàng quyết đoán, cho nên dẫu có mấy năm tai biến mất mùa nhưng việc chính trị còn có thứ tự. Từ năm Đại-trị nguyên niên (1358) trở đi, Thượng hoàng mất rồi, bọn cựu thần như ông Trương Hán Siêu, ông Nguyễn Trung Ngạn cũng mất cả, từ đó việc chính trị bỏ trễ nải. Kẻ gian thần mỗi ngày một đắc chí. Vua Dụ tông về sau cứ rượu chè chơi bời, xây cung điện, đào hồ đắp núi, rồi cho gọi những người nhà giàu vào trong điện để đánh bạc. Bắt các quan thi nhau uống rượu, ai uống được một trăm thăng thì thưởng cho hai trật. Chính-sự như thế, cho nên giặc cướp nổi lên như ong … Dân tình khổ sở. Cơ nghiệp nhà Trần bắt đầu suy từ đấy.”

      ⁵Toàn Thư
      cũng cho biết từ năm Đại Trị nguyên niên (1358) trở đi, vua Dụ tông “chơi bời quá độ, cơ nghiệp nhà Trần suy yếu.” Có lần vua ngự thuyền nhỏ đi chơi khuya, mãi canh ba mới về, tới khúc sông vắng, bị cướp mất ấn báu, gươm báu. “Vua tự biết mình không sống lâu, càng thả sức chơi bời.” ⁶

      Sau khi dâng biểu can ngăn không hiệu quả, Chu Văn An đành dâng “Thất trảm sớ.” Tuy thế, những kẻ ông xin chém là những tên gian nịnh, đã kết thành bè đảng, lấy được lòng tin của vị vua bê tha và ham vui. Nếu không có uy tín thật cao, Chu Văn An đã bị họ sát hại. Có khi cũng vì lẽ ấy ông phải lui về núi ẩn cư. Nếu còn ở kinh đô, không khỏi bị họ coi là “cái gai trong mắt.”

      Tập truyện ký đầu tiên chép về Chu Văn An là Nam Ông Mộng Lục của Hồ Nguyên Trừng. Chu Văn An trung với nhà Trần trong khi thân phụ Hồ Nguyên Trừng là Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần. Tuy thế, Hồ Nguyên Trừng vẫn viết về Chu Văn An với đầy trân trọng và thương tiếc:

      “Chu An, hiệu Tiều Ẩn, người Thượng Phúc…Tính ông liêm khiết cương trực. Ở nhà thường thích đọc sách, học vấn tinh thuần, tiếng vọng xa gần. Học trò đầy cửa … An điềm đạm, ít ham muốn, không đi thi. Khoảng năm Chí Nguyên, Trần Minh vương bái mời làm Quốc tử Tư nghiệp, dạy Thế tử học …Minh vương mất, con là Dụ vương chơi bời, bỏ chính sự, quyền thần làm nhiều điều trái phép. An nhiều lần can ngăn không nghe, lại dâng sớ xin chém bảy tên gian thần đều hạng quyền thế, người đương thời gọi là “Thất trảm sớ.” Dâng lên không trả lời, An treo mũ từ quan, về với vườn ruộng. Sau Dụ vương mất, nước có loạn. Quần thần đón lập Nghệ vương. An nghe rất mừng, chống gậy yết kiến, rồi lại về làng, từ chối không nhận chức tước. Ban cho hiệu Văn Trinh tiên sinh, hậu lễ tiễn đưa. Chẳng bao lâu, An mất ở nhà. Nhân sĩ đô thành cảnh ngưỡng cao phong, không ai là không thở than thương tiếc.” ⁷

      Trong Tang Thương Ngẫu Lục viết vào đầu thế kỷ 19, sau khi Chu Văn An tạ thế đã trên 400 năm, hai tác giả Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án cũng nhắc lại những chi tiết như trong các tài liệu trước. Hai ông thêm lời bình luận, “Sĩ phu đều kính ngưỡng như núi Thái sơn, sao Bắc đẩu,” và chép lại bài thơ ca tụng Chu Văn An của Băng Hồ tướng công Trần Nguyên Đán (tôn thất đời Trần, 1325 hay 1326 – 1390) mà câu đầu là:

      Phủ miện hoàn khuê tâm dĩ hôi
      (Đối với mũ áo của triều đình và ngọc hoàn khuê cầm tay [y phục của đại thần khi vào chầu thiên tử], lòng đã nguội lạnh như tro). ⁸

      Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú là một tác phẩm đồ sộ, chia làm 10 thiên. Thiên thứ II, “Nhân vật chí” từ Quyển VI đến Quyển XII. Cuộc đời Chu Văn An được chép ở đầu Quyển XI, “Các nhà nho có đức nghiệp.”

      Sau khi nhắc lại một số điều chúng ta đã biết qua các tài liệu trước, nhà bác học họ Phan viết thêm: “Khi Dụ tông mất, ngôi nhà Trần sắp tuyệt. Nghe tin quần thần đón lập Nghệ tông, ông rất mừng, chống gậy lên yết kiến. Rồi lại xin về làng, phong chức gì cũng từ chối không nhận. Vua lấy lễ tôn kính, sai quần thần đưa về. Không bao lâu ông chết ở nhà.” Phan Huy Chú bình luận, “Cái học của ông tinh túy chân chính… Đạo đức ông làm khuôn mẫu, đương thời ai cũng tôn trọng… Ai cũng khen phong độ của ông là cao thượng.” ⁹

      Phan Huy Chú cũng trích dẫn một bài thơ của Trần Nguyên Đán (đã nhắc tới ở trên) làm sau khi Chu Văn An được vua Trần Minh tông “bái phong” làm Quốc tử Tư nghiệp. Xin được dẫn 3 câu đầu trong bài thơ 8 câu ấy:

      Học hải hồi lan, tục tái thuần
      Thượng tường sơn đẩu đắc tư nhân
      Cùng kinh bác sử công phu đại …
      (Xoay luồng sóng trong biển học để phong tục lại được thuần hậu
      Nhà trường đã được bậc đạo đức như Thái sơn, Bắc đẩu đến dạy
      Đọc hết kinh, xem rộng sử, công phu rất lớn …) ¹⁰

      Học giả Trần Văn Giáp (thân phụ của các Gs. Trần Văn Dĩnh, Trần Văn Kiện, giáo sư tại Đại học Luật khoa Sàigòn trước năm 1975) là một nhà nghiên cứu uyên bác nhưng cẩn trọng, mỗi chữ, mỗi câu đều có cân nhắc. Trong cuốn Lược Truyện Các Tác Gia Việt Nam do ông chủ biên, phần về Chu Văn An chiếm gần hai trang với lời tóm lược như sau: “Ông là người tính nết ngay thẳng, trong sạch, có tài văn chương, uyên thâm về đạo lý nho học …Khi ông mất, được thờ tại Văn miếu, cùng hàng với các bậc hiền triết, và có đền thờ riêng nơi nhà ở ẩn của ông trên núi Phượng Hoàng.” Trong sách cũng nói qua về việc dựng đền, các câu đối trong đền, cùng liệt kê các tác phẩm của Chu Văn An. ¹¹

      Những người Việt được đi học từ lớp tuổi 65, 66 trở lên đều đã học qua, hay ít nhất biết qua, bộ Quốc Văn Giáo Khoa Thư do các cụ Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận soạn. Bộ này được Nha Học Chính Đông Pháp xuất bản, và được dùng làm tài liệu giáo khoa chính thức trong các trường tiểu học cho tới năm 1945, làm tài liệu tham khảo ít nhất cho đến năm 1954. Bài về Chu Văn An là bài thứ 34 trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Sơ đẳng. Nửa sau của bài ấy như sau:

      “Vua nghe ông là bậc đạo đức mô phạm, triệu vào kinh cho làm quan để dạy Thái tử. Sau ông thấy chính sự trong triều suy đồi, bọn quyền thần lắm kẻ làm bậy, ông dâng sớ xin chém người gian nịnh. Vua không nghe lời. Ông bèn từ chức, không thiết gì đến công danh quyền lợi nữa.
      Người trong nước ai cũng khen ông là bậc cao hiền. Khi ông mất, vua cho đem vào thờ trong Văn miếu, ngang hàng với các bậc tiên nho.” ¹²

      Trong tất cả các tài liệu kể trên, suốt một dòng thời gian 600 năm, từ tác phẩm đầu tiên của Hồ Nguyên Trừng (sinh năm 1374) đến tác phẩm cuối dưới sự chủ biên của Trần Văn Giáp (mất năm 1973), Chu Văn An đều được trình bày là một nhân vật đáng kính ngưỡng với cốt cách thanh cao.

      Trong Quyển V của Kiến Văn Tiểu Lục, bàn về tài năng, phẩm hạnh con người, nhà bác học Lê Quý Đôn viết, “Chu An dâng sớ xin chém bọn nịnh thần, làm rung động cả trong triều ngoài quận, rồi cáo quan trả mũ áo về nhà, không chịu tước lộc bó buộc, vua chúa phải tôn trọng, công khanh phải kính phục, đấy là bậc thanh cao nhất.” ¹³

      Trong kho tàng văn học Việt Nam, thơ văn và câu đối ca tụng Chu Văn An rất nhiều. Để làm tiêu biểu, xin được dẫn một bài thơ của Đặng Minh Khiêm (1456? – 1522?) trong Việt Giám Vịnh Sử Tập:

      Thất trảm chương thành tiện quải quan
      Chí Linh chung lão hữu dư nhàn
      Thanh tu khổ tiết cao thiên cổ
      Sĩ vọng nham nham ngưỡng Thái san

      (Thất trảm sớ dâng rồi, giải quan
      Chí Linh cao ẩn giữa thanh nhàn
      Sửa mình, khí tiết soi thiên cổ
      Kẻ sĩ trông vời hướng Thái san).

      Câu đối ở đình làng Thanh Liệt (quê của Chu Văn An):

      Thất trảm sớ còn thơm, gương sử thẹn cho phường mại quốc
      Lục kinh tro chửa nguội, bảng huỳnh treo mãi chốn danh hương.

      Những chữ Hán trong cặp câu đối tại bàn thờ Chu Văn An ở Văn miếu Quốc tử giám giới thiệu phía trên:

      Bác ư sử, cùng ư kinh, thánh đạo uyên nguyên khai hậu học
      Hành dĩ lễ, tàng dĩ nghĩa, hiền nhân phong tiết thiệu tiên nho

      Nghĩa:

      Học rộng về sử, thấu nghĩa các kinh, những chỗ vực sâu, khai nguồn của đạo thánh mở cho người học sau
      Ra làm việc đời theo chữ lễ (ngụ ý theo lệnh vua triệu khi ra làm quan), lui về ở ẩn theo chữ nghĩa (khi đời vô đạo thì lui về), phong tư khí tiết của bậc hiền nhân tiếp nối các bậc tiên nho.

      Tóm lại, trong suốt dòng lịch sử dân tộc từ mấy trăm năm nay, Chu Văn An được vô cùng kính ngưỡng. Bên cạnh việc được thờ ở Văn miếu Quốc tử giám Hà Nội, ông còn đền thờ ở quê nhà, tại khu trường dạy học của ông ngày xưa, và đền thờ trên núi Phượng Sơn trong dãy núi Chí Linh, nơi ông về ẩn dật trong những năm cuối đời. Tên ông được đặt cho một trường Trung học quan trọng của Việt Nam, và trên nhiều đường phố ở Hà Nội, Sàigòn, thị xã Quảng Yên, thành phố Uông Bí …

      Chu Văn An không thành công trong việc khu trừ bọn gian thần chung quanh vua Dụ tông. Chúng ta có thể nêu nhận xét: ông “không giỏi về chính trị.” Nếu muốn, có thể coi ông là “thường, xoàng, không có mưu lược chính trị.” Tuy nhiên, nói như thế cũng có điểm bất công: từ trước tới sau, ông chỉ tự coi là một nhà giáo dục, và căn bản cũng chỉ là một nhà giáo dục. Sau khi lui về ẩn tại Chí Linh, ông lại tiếp tục làm công việc dạy học. Gọi ông là “rất tệ,” là “tối” đã có phần quá đáng. Không cách nào giải thích, không thể nào biện minh được cho việc gọi ông là “thằng cha,” “thằng cà chớn” một cách ngạo ngược và vô lễ. Cộng đồng phẫn nộ và phản ứng một cách gay gắt cũng là lẽ đương nhiên.

      Chúng ta không có tài liệu đầy đủ về quan chế đời Trần. Tất cả tài liệu về điển chương, chế độ trong hai triều Lý, Trần đã bị quân Minh tịch thu, thiêu hủy, hay đưa về Kim Lăng theo chỉ thị của Minh Thành tổ sau khi chiến thắng Hồ Quý Ly. Nhưng theo quan chế đời Lê, thì Quốc tử giám Tư nghiệp ở hàng Tòng Ngũ phẩm, dưới các chức Thượng thư (Tòng Nhị phẩm), Đô Ngự sử (Chánh Tam phẩm), Thị lang (Tòng Tam phẩm), Phó Đô Ngự sử (Chánh Tứ phẩm), Quốc tử giám Tế tửu (Tòng Tứ phẩm), và Thái y viện đại sứ (Chánh Ngũ phẩm) ¹⁴. Theo quan chế thời Nguyễn thì Quốc tử giám Tư nghiệp ở hàng Tòng Tứ phẩm ¹⁵. Đời Trần chắc không khác bao nhiêu: các học quan chỉ làm công việc dạy học, không có quyền về hành chánh, ngạch trật thường không cao. Ngoại trừ bản “Thất trảm sớ,” Chu Văn An không còn phương tiện chính thức nào khác để có thể nói lên ý hướng muốn trừ bọn gian thần.

      Ở nước Tề đời Xuân Thu bên Trung Hoa, Quản Trọng làm Tướng quốc (Tể tướng) mà không trừng trị được ba kẻ tiểu nhân Thụ Điêu, Dịch Nha, Khai Phương, luôn luôn xu nịnh Tề Hoàn công. Ngạch trật và vị thế Chu Văn An thua Quản Trọng khá xa, số gian thần, tiểu nhân đông hơn, và Dụ tông là vị vua bê tha, không sáng suốt như Tề Hoàn công. Chúng ta cần thông cảm những chỗ khó của Chu Văn An, và không nên đòi hỏi quá đáng khi phê phán ông.

      Khi dâng “Thất trảm sớ,” Chu Văn An sống trong đời vua Dụ tông. Thượng hoàng Minh tông, người có tình “tri ngộ” triệu ông ra làm quan, đã qua đời. Vua Hiến tông, vị Thái tử được ông giáo huấn, đã qua đời quá sớm khi mới 22 tuổi. Giữa ông và Dụ tông không có tương quan gì đặc biệt. Vị vua trẻ ham uống rượu, thích đánh bạc, thích đắp núi, đào hồ, xây cung điện, chắc chắn gần với bọn tiểu nhân khéo chiều chuộng và xu nịnh hơn.

      Trở lại với YouTube trong đó Chu Văn An bị miệt thị, ta có thể thấy ngay người thực hiện YouTube ấy đã có một ngộ nhận quan trọng. Tưởng rằng Chu Văn An quyền chức cao, trong khi ông chỉ là một học quan ở Ngũ phẩm. Chê ông không biết bày mưu lập kế chia rẽ bọn gian thần, trong khi ông là một nhà giáo dục thẳng tính với tâm hồn cao khiết. Lầm lẫn ấy đưa tới một hậu quả đáng tiếc.

      Với phẩm cách cao quý, Chu Văn An rất được kính ngưỡng, đã trở thành một biểu tượng về văn hóa của dân tộc từ bao đời. Buông lời hỗn xược đối với ông trong khi không nêu được lý do là một hành động dại dột, rất khó được dư luận tha thứ.

      Phân tích nguyên động lực khiến người thực hiện YouTube có hành động như thế, một số người cho rằng đây chỉ là “một phần trong một kế hoạch lớn, nhằm soi mòn, triệt hạ những giá trị tinh thần của dân tộc Việt.” Đánh tan uy tín của vị “vạn thế sư” sẽ khiến dân Việt bị hoang mang, tan rã hết niềm tin, hầu “dễ bị đồng hóa.” Có người cho rằng Chu Văn An tiêu biểu tinh phần sĩ phu khảng khái của dân tộc Việt Nam. Đập tan uy tín của Chu Văn An là ý hướng của một nhóm cầm quyền độc tài, muốn dân Việt không ai là người khí khái nữa, sẽ dễ chịu khuất phục.

      Người viết những dòng này chưa thấy vấn đề trầm trọng đến mức ấy. Cách hành xử của nhà giáo dục Chu Văn An quang minh chính đại, sáng rực rỡ như ánh mặt trời, khó ai có thể xuyên tạc. Dân tộc Trung Hoa có thành ngữ, “chó Đạo Chích sủa vua Nghiêu.” Uy tín của vua Nghiêu không tổn hại khi bị chó [của] Đạo Chích sủa.

      Có người cho rằng đây là hành động của một người cao ngạo, kiêu căng, luôn luôn nghĩ rằng mình hơn đời, vậy cần phải “độc sáng,” khác đời. Nếu đúng thế, đây là một việc làm quá táo bạo, dựa trên một nhận thức thiếu chính xác. Việc làm ấy sẽ khiến mức tín nhiệm còn lại bị sụp đổ. Danh vọng, uy tín của một vĩ nhân như Chu Văn An bền vững đã trên 600 năm nay. Một người ở thời chúng ta, dù thông minh tới cỡ nào, làm sao lay đổ được?



      Tượng Chu Văn An tại trường Trung học Chu Văn An Hà Nội
      Người chụp: Quỳnh TrangXuất xứ: Trang mạng VNExpress
    • Từ Mai Trần Huy Bích

      ***
      CHÚ THÍCH
      Đại Việt Sử Ký Toàn Thư / Hoàng Văn Lâu dịch và chú thích ; Hà Văn Tấn hiệu đính (Hà Nội : NXB Khoa Học Xã Hội, 1988), Tập II, trang 151-152.

      Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục / dịch giả, Viện Sử Học (Hà Nội : NXB Giáo Dục, 1998). Ấn bản điện tử do Lê Bắc thực hiện, trang 293.

      Toàn Thư (sđd), Tập II, trang 153.

      4· Ngô Thời Sĩ. Việt Sử Tiêu Án / Bản dịch của Hội Việt Nam Nghiên Cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu (San Jose, CA: Văn Sử, 1991), trang 252-253.

      5· Trần Trọng Kim. Việt Nam Sử Lược (Sài Gòn : Trung Tâm Học Liệu, 1971), trang 173-174.

      Toàn Thư (sđd), Tập II, trang 127, 144.

      7· Hồ Nguyên Trừng. Nam Ông Mộng Lục / Trần Nghĩa dịch và chú thích (Hà Nội : NXB Văn Học, 2001), truyện thứ 7.

      8· Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án. Tang Thương Ngẫu Lục / dịch giả, Đạm Nguyên (Sài Gòn : Bộ Giáo Dục, 1970), trang 109-110.

      9· Phan Huy Chú. Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí / Tổ Phiên Dịch Viện Sử Học Việt Nam phiên dịch và chú giải (Hà Nội : NXB Khoa Học Xã Hội, 1992), Tập 1, trang 364.

      10· Phan Huy Chú (sđd), trang 365.

      11· Lược Truyện Các Tác Gia Việt Nam / Trần Văn Giáp chủ biên (Hà Nội : NXB Văn Học, 2000), trang 174-175.

      12· Quốc Văn Giáo Khoa Thư : Lớp Sơ Đẳng / Trần Trọng Kim … (Hà Nội : Nha Học Chánh Đông Pháp, 1935), trang 42.

      13· Lê Quý Đôn. Kiến Văn Tiểu Lục (Hà Nội : NXB Văn Hóa Thông Tin, 2007), trang 298.

      14· Phan Huy Chú. Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí (sđd), trang 451-452.

      15· Trần Trọng Kim. Việt Nam Sử Lược (sđd), trang 189-192.

    Tượng Chu Văn An trên bàn thờ tại Văn miếu – Quốc tử giám Hà Nội(Những chữ Hán trên đôi câu đối sẽ được giải thích ở cuối bài)

    “TRẢ LẠI NHỮNG GÌ …CỦA LỊCH SỬ CHO LỊCH SỬ”

    Phạm Trần Anh

    Lịch sử Việt là lịch sử của sự thăng trầm từ khi lập quốc đến ngày nay trải qua hàng ngàn năm đô hộ của giặc Tầu, gần một trăm năm nô lệ giặc Tây và hơn nửa thế kỷ nô dịch văn hóa ngoại lai. Trong suốt trường kỳ lịch sử, Hán tộc bành trướng với ưu thế của kẻ thắng trận và thủ đoạn thâm độc quỷ quyệt đã không những dùng mọi phương cách để đồng hóa Việt tộc bằng cách xóa đi mọi dấu vết cội nguồn, bóp méo sửa đổi lịch sử khiến thế hệ sau chỉ biết tìm về lịch sử trong một mớ “chính sử” hỗn độn mơ hồ.

    Mỗi một triều đại Hán tộc đều chủ tâm thay đổi địa danh, thủy danh xưa cũ của Việt tộc cùng với ảnh hưởng nặng nề của một ngàn năm đô hộ của sự nô dịch văn hóa khiến ta chấp nhận tất cả như một sự thật mà không một chút bận tâm. Thế nhưng… Lịch sử vẫn là lịch sử của sự thật dù bị sửa đổi vùi lấp hàng nghìn năm dưới ánh sáng của chân lý khách quan trước thềm thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại.

    Vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải nhìn lại toàn bộ lịch sử Việt để phục hồi sự thật của lịch sử để xóa tan đám mây mờ che lấp suốt mấy ngàn năm lịch sử bởi kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.. Trong lịch sử nhân loại, có lẽ không một dân tộc nào chịu nhiều mất mát trầm luân như dân tộc Việt với những thăng trầm lịch sử, những khốn khó thương đau. Ngay từ thời lập quốc, Việt tộc đã bị Hán tộc với sức mạnh của tộc người du mục đã đánh đuổi Việt tộc phải rời bỏ địa bàn Trung nguyên Trung quốc xuống phương Nam để rồi trụ lại địa bàn Việt Nam bây giờ. Trải qua gần một ngàn năm đô hộ, với chiến thắng Bạch Đằng Giang năm 938 của Ngô Quyền mới chính thức mở ra thời kỳ độc lập của Việt tộc. Tuy thất bại về quân sự nhưng nền văn hóa của Việt tộc đã thẩm nhập vào đất nước và con người Hán tộc để hình thành cái gọi là văn minh Trung Quốc.

    Chính sử gia chính thống của Hán tộc là Tư Mã Thiên đã phải thừa nhận một sự thực là “Việt tuy gọi là man di nhưng tiên khởi đã có đại công đức với muôn dân vậy …”. Vạn thế sư biểu của Hán tộc là Khổng Tử đã ca tụng nền văn minh rực rỡ, xác nhận tính ưu việt của nền văn minh Bách Việt ở phương Nam. Trong sách Trung Dung Khổng Tử đã viết như sau:“Độ luợng bao dung, khoan hòa giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam, người quân tử ở đấy ..!  Mặc giáp cưỡi ngựa, xông pha giáo mác, đến chết không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc. Kẻ cường đạo ở đó ..”.

    Trong kinh “Xuân Thu”, Khổng Tử đã ghi lại bao nhiêu trường hợp cha giết con, con giết cha, cha cướp vợ của con, con cướp vợ của cha, anh chị em dâm loạn với nhau, bề tôi giết chúa … Điều này chứng tỏ Hán tộc du mục vẫn còn dã man với lối sống du mục.ngay trong giới quí tộc chứ đừng nói đến bình dân. Thế mà chính sử Trung Quốc cứ vẫn sao chép Việt tộc là man di, các Thứ sử Thái Thú Hán vẫn lên mặt giáo hóa dân Việt trong khi Bách Việt ở phương Nam đã đi vào nền nếp của văn minh nông nghiệp từ lâu.

    Chính “Vạn thế Sư biểu” của Hán tộc là Khổng Tử cũng đã phải đem những nghiên cứu, sưu tập, học hỏi của nền văn minh Bách Việt phương Nam đặt để thành những quy luật, trật tự cho xã hội phương Bắc. Tất cả những “Tứ thư, ngũ kinh” được xem như tinh hoa của Hán tộc đã được chính Khổng Tử xác nhận là ông chỉ kể lại “Thuật nhi bất tác”, sao chép lại của tiền nhân chứ không phải do ông sáng tác ra.

    Ngày nay, sự thật lịch sử đã được phục hồi khi giới nghiên cứu đều xác nhận hầu hết các phát minh gọi là văn minh Trung Quốc từ nền văn minh nông nghiệp đến văn minh kim loại, kỹ thuật đúc đồng, cách làm giấy, cách nấu thủy tinh, cách làm thuốc súng, kiến trúc nóc oằn mái và đầu dao cong vút … tất cả đều là của nền văn minh Bách Việt. Chính một vị vua của Hán tộc, Hán Hiến Đế đã phải thừa nhận: “Giao Chỉ là đất văn hiến, núi sông un đúc, trân bảo rất nhiều, văn vật khả quan, nhân tài kiệt xuất ..!”. Hầu hết các học giả, các nhà Trung Hoa học đều cho rằng văn hoá Trung Quốc phát nguyên từ văn hóa Việt ở miền Nam Trung Quốc. Các sử gia Trung Quốc thời trước cố tình không thừa nhận một sự thực, đó là sự đóng góp to lớn của cư dân Hoa Nam tức người Việt cổ trong việc hình thành tạo dựng nền văn minh Trung Hoa. Học giả Eicks Kedt nhận định rằng Tư Mã Thiên, sử gia chính thống của “Đại Hán” sinh ở Long Môn thuộc Sơn Tây nên nhất quyết từ chối không để lại bất kỳ một tài liệu gì về dân Mạn Nam. Hầu như tất cả người Tầu mạn Bắc đều như vậy.  Eicks Kedt tiếc rằng những học giả Âu Tây chỉ biết ngốn nghiến sử liệu của Tư Mã Thiên hay những sử gia khác mà không chú ý đến việc bẻ quặt do sự bỏ sót nhiều sự kiện, nhất là khi nói đến các dân Man Di ngoài Hán tộc. Lý do của sự bỏ sót đó là họ đã xem Nho giáo xuyên qua lăng kính nhuộm đẫm màu Hán tộc nên chỉ nhìn nhận để có những gì thuộc miền Bắc nước Tầu mà thôi.

     Một nhà nghiên cứu về Trung Quốc khác là Terrien de la Couperie trong tác phẩm “Những ngôn ngữ trước Hán” đã nhận định: “Người Hán ngại nhìn nhận sự có mặt của những cư dân không phải là Hán tộc sống độc lập ngay giữa miền họ cai trị. Tuy họ không thể giấu được sự kiện là họ đã xâm lăng, nhưng họ đã quen dùng những danh từ đao to búa lớn, những tên địa dư rộng để bịt mắt những độc giả không chú ý, hầu che đậy buổi sơ khai tương đối bé nhỏ của họ. Muốn tìm hiểu các cư dân đó thì chỉ còn cach là đi dò tìm vết tích còn quá ít vì cho tới nay, người ta ít chú ý tới sự quan trọng lịch sử của các chủng tộc tiền Hán trừ một hai chuyện gây sự tò mò mà thôi”. Terrien de la Couperie kết luận: “Niềm tin là Trung Quốc vốn lớn lao mãi từ xưa và thường xuyên là như thế chỉ là một huyền thoại. Trái ngược lại, đó là việc mới xảy ra về sau này. Văn minh Trung quốc không phải tự nó sinh ra mà chính là kết quả của sự thâu hoá. Việc thâu hoá thì ngày nay được nhiều người công nhận, còn thâu hoá từ đâu thì trước đây cho là từ phía Tây nhưng về sau này, nhiều người cho là từ văn hoá Đông Nam …”

    Theo học giả J.Needham thì Protoviets đã mang theo 25 đặc trưng văn hoá lên địa bàn cư trú mới mà các nhà nghiên cứu nhân chủng, ngôn ngữ và văn hoá liệt kê như sau:

    1. Cách làm quần áo bằng vỏ cây.

    2. Tục xâm mình.

    3. Đốt rừng làm rẫy.

    4. Kỹ thuật làm nương rẫy.

    5. Kỹ thuật đào mương dẫn nước vào ruộng.

    6. Kỹ thuật thuần hoá trâu để cày bừa.

    7. Văn minh trồng lúa nước.

    8. Đặc điểm ngôi nhà làng để dân làng tụ họp sinh hoạt.

    9. Kỹ thuật trồng tre và sử dụng dụng cụ bằng tre trong sinh hoạt hàng ngày.

    10. Đặc thù về giống chó đã được thuần hoá.

    11. Kỹ thuật làm tranh sơn mài.

    12. Văn hoá biển và sông nước.

    13. Kỹ thuật đóng thuyền Tầu dài.

    14. Tục đua thuyền trong các lễ hội.

    15. Huyền thoại về con Rồng.

    16. Tôn thờ loài Rồng này.

    17. Tục thờ cúng ông bà Tiên tổ.

    18. Tục giết heo để cúng bái.

    19. Tục cầu tự (cầu cúng để có con nối dõi tông đường)

    20.  Hội mùa Xuân, mùa Thu để trai gái tự do vui chơi để tự do lựa vợ kén chồng.

    21. Tục linh thiêng hoá ngọn núi.(35bis)

    22.  Văn minh Trống đồng.

    23.  Kỹ thuật đúc sắt.

    24.  Kỹ thuật dùng nỏ bắn tên.

    25.  Kỹ thuật làm khí giới có chất độc ( Mũi tên tẩm thuốc độc).

     Sau văn hoá Hoà Bình là VĂN HOÁ BẮC SƠN cũng thuộc nền văn hoá thung lũng mà chủ nhân là cư dân ở trung châu Bắc Việt là chủ nhân của nền văn hoá Bắc Sơn. Thời kỳ này tổ tiên ta đã chuyển hẳn sang trồng trọt và chăn nuôi nhỏ nhưng vẫn còn hái lượm và săn bắt cá. Di tích hang Tham Fi còn gọi là hang ma (Spirit cave) tại Đông Bắc Thái Lan có niên đại C14 là 10-8 ngàn năm. Nhà khoa học Mỹ Chester Gorman cũng đã tìm thấy nhiều hoá thạch lớn của các loại cây trồng như trám, cau, bàng và một số loại rau như rau sắn chùa Hương nửa hoang dại nửa thuần dưỡng và những vỏ trấu ở di chỉ hang Xóm tại Hoà Bình. Thời kỳ này nghề nông trồng lúa đã bắt đầu từ vùng thung lũng rồi phát triển dần lên vùng cao.

     Điểm quan trọng được nhấn mạnh ở đây là khác với Lommel, J. Needham khẳng định rằng: 3 nếp sống văn hoá này đem vào Trung Hoa thời Tiền sử mang yếu tố “Biển” rõ rệt và có thể mô tả bằng một chữ, đó là chữ “VIỆT” mà trước kia thường gọi sai lầm là Thái cổ  (ProtoThai). Học giả lừng danh này còn chú thích rõ chữ Việt nay là quốc hiệu của một nước vùng Đông Nam châu Á: Nước Việt Nam ngày nay. Chính vì vậy, học giả Nga ông Ja.V. Chesnov đã nhận định rất sâu sắc về nền văn minh Trung Quốc như sau: Trước triều Thương, văn hoá Trung Hoa được hình thành với sự đóng góp của văn hoá phương Nam và sau triều Thương tiến bộ là do văn hoá phương Tây …

    Tóm lại, người Trung Quốc mà ta thường gọi là Tầu (Hán tộc) không phải là một chủng thuần tuý và cũng không có một văn hoá riêng biệt nào. Lịch sử Trung Quốc bắt đầu từ triều đại Thương là một tộc người du mục kết quả của sự phối hợp chủng giữa Nhục Chi và Huns (Mông cổ). Kế tiếp là triều Chu cũng là một tộc du mục có hai dòng máu Mông Cổ và Hồi (Turc). Sau khi Mông Cổ chiếm được Trung Quốc đã thành lập triều Nguyên rồi khi Mãn Châu diệt triều Minh lại thành lập triều Thanh trong lịch sử Trung Quốc.

    Có thể nói lịch sử Trung Quốc là lịch sử của sự xâm lăng và bành trướng đồng thời cũng bị xâm lăng nhưng tất cả kẻ chiến thắng bị sức mạnh của văn hoá của dân bị trị khuất phục để rồi tự đồng hoá với cư dân bản địa cuối cùng trở thành Hán tộc mà ta thường gọi là người Tầu. Giáo sư Wolfram Eberhard trong tác phẩm “Lịch sử Trung Quốc” đã nhận định: “Ý kiến cho rằng chủng tộc Hán đã sản sinh ra nền văn minh cao đại hoàn tự lực do những tài năng đặc biệt của họ thì nay đã không thể đứng vững, mà nó phải chịu cùng một số phận như những thuyết cho rằng họ đã thâu nhận của Âu Tây. Hiện nay, người ta biết rằng xưa kia không có một chủng tộc Tầu, cũng chẳng có đến cả người Tầu nữa, y như trước đây 2.000 năm không có người Pháp, người Suisse vậy. Người Tầu chỉ là sản phẩm của sự pha trộn dần theo một nền văn hoá cao hơn mà thôi”.

    Chính sử gia Trung quốc, Chu Cốc Thành trong “Trung Quốc thông sử” viết: “Viêm tộc (Việt tộc) đã có mặt khắp nước Trung Hoa cổ đại trước khi các dòng tộc khác tràn vào nên có thể xem là chủ nhân đầu tiên. Khi Viêm Việt đã định cư, Hán tộc còn sống du mục tại vùng Tân Cương, Thanh Hải. Về sau họ theo Hoàng Hà tràn vào Hoa Bắc, chiếm đất của Việt tộc”. Nhà nghiên cứu La Hướng Lâm người Trung Quốc trích dẫn “Việt tỉnh Dân tộc Khảo nguyên” của Chung Độc Phật viết: “Cả miền đất châu Kinh (đất nước Sở), châu Dương (đất nước Việt) và châu Lương (đất nước Quỳ Việt) nghĩa là tất cả lưu vực sông Dương Tử từ Vạn Huyện ở Tứ Xuyên trở xuống đều là giống người Việt ở cả. Sách Hoa Dương Quốc chí chép miền Nam Trung gồm Quý Châu, Vân Nam là đất Di Việt xưa. Vùng đất này gồm hơn 1 chục vương quốc như Điền Bộc, Cú Đinh, Dạ Lang, Diệp Du, Đồng Sư, Việt Tuỷ …”.

    Sự thực lịch sử này đã được các sử gia Trung Quốc hiện đại công nhận là Việt tộc theo sông Dương Tử tiến về phía Đông thành lập 7 tỉnh lưu vực sông Dương Tử gồm Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, Giang Tô, An Huy và Triết Giang. Dần dần Việt tộc tiến lên Hoa Bắc thành lập 6 tỉnh lưu vực Hoàng Hà là Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, Sơn Đông, Thiểm Tây, Cam Túc và phía Nam thành lập các tỉnh lưu vực Việt Giang gồm Vân Nam, Quý Châu, Quảng Tây, Quảng Đông và Phúc Kiến.

    Ngày nay, các nhà nghiên cứu như VK Tinh, Wang Kwo Wu và cả nhà văn nổi tiếng Quách Mạt Nhược đều xác định là hầu hết các huyền thoại về các vị Vua cổ xưa nhất không thấy ghi trên giáp cốt đời Thương, mà chỉ ghi vào sách vở về sau này, khoảng từ thế kỷ thứ IV TDL, tức là thời kỳ xuất hiện các quốc gia Bách Việt thời Xuân thu Chiến quốc. Thực tế lịch sử này cho thấy những huyền thoại cổ xưa là của Việt tộc vì nếu là tổ tiên Hán tộc thì đã phải ghi trên giáp cốt đời Thương cũng như trong các sử sách, cốt tự văn hoặc chữ tạc trên đồ dùng. Chính vì vậy mà nhóm Tân học gọi là Nghi cổ phái thành lập năm 1920 do Quách Mạt Nhược chủ xướng đã bác bỏ thời Tam Hoàng, Ngũ Đế là của Trung Quốc.

    Thật vậy, huyền thoại về thủy tổ Bàn Cổ mới được nói đến trong quyển “Tam Hoàng”, kể cả Phục Hi, Nữ Oa cũng không hề được nhắc tới trong các sách cổ xưa như Kinh Thi, Trúc thư kỷ niên và cũng không hề thấy xuất hiện trong đồ đồng hoặc bốc từ. Viêm Đế Thần Nông mới được Mạnh Tử thời Xuân thu Chiến quốc nhắc tới còn Hoàng Đế chỉ biết tới vào thế kỷ thứ III TDL khi Tư Mã Thiên đưa vào bộ “Sử Ký” của Tư Mã Thiên.

    Tháng 2-1971, các nhà khảo cổ tìm được ở Liu-ch’êng-ch’iao Trường Sa thuộc vùng Hồ Nam, địa điểm tên là một cái qua còn nguyên vẹn. Trong tác phẩm “Cultural Frontiers in Ancient East Asia” của William Watson viết về những đồ vật đào lên tại tỉnh Hồ Nam trong đó có một cái qua có khắc tên một vị vua tên là Nhược Ngao. Sử Ký Tư Mã Thiên và Xuân Thu Tả Truyện viết rõ là vị vua có hiệu là Nhược Ngao là vị vua Hùng thứ 14 tên thật là Hùng Nghi hiệu Nhược Ngao cai trị vào năm 789 trước Tây Lịch. Điều này chứng tỏ thời đại Hùng Vương là có thật trong lịch sử.

    Trước những sự thật của lịch sử, Trung Quốc đã phải xác nhận là nền văn hoá của họ là do hàng trăm dân tộc góp phần tạo dựng nhưng văn hoá Hán ở vùng Tây Bắc là chủ thể. Thế nhưng chính học giả Trung Quốc Wang Kuo Wei lại cho rằng nơi phát nguyên văn hoá Tầu là ở miền Đông Bắc tức vùng Sơn Đông của Lạc bộ Trãi chứ không phải ở miền Tây Bắc (Thiểm tây) như quan niệm sai lầm từ trước đến nay. Sử Trung quốc vẫn cho rằng 3 triều đại Hạ, Thương, Chu là những triều đại đầu tiên của Trung Quốc theo thứ tự, nhưng Kwang Chih Chang khám phá ra thì không phải là như vậy mà đó chỉ là 3 trong nhiều nhóm chính trị đại diện cho các chủng tộc đối nghịch tranh giành ảnh hưởng mà thôi, còn văn hoá thì đều theo như Di Việt nghĩa là cũng thờ thổ thần và cây linh. Các công trình nghiên cứu lịch sử Trung Hoa Cổ Đại được kiểm chứng bởi kết quả khoa học mới nhất đã chứng minh lịch sử Trung Hoa Thời Cổ Đại là của Đại tộc Việt và Lịch sử của Trung Quốc chỉ bắt đầu từ triều Thương 1776 TDL mà thôi.

     Theo Công trình mới nhất “Nguồn gốc nền văn minh Trung Hoa”, tổng kết trong Hội nghị Quốc tế các nhà Trung Hoa học trên toàn thế giới tổ chức tại Berkeley năm 1978, thì  không thể tìm ra đủ dấu vết chứng cớ để phân biệt giữa Hán tộc và các tộc người không phải là Tầu trên phương diện lịch sử. Giới nghiên cứu phải tìm về dấu tích văn hoá mà về văn hoá thì Hán tộc chịu ảnh hưởng của Di Việt.

    Tương truyền Thần Nông phát xuất ở miền Tây Tạng (Tibet) đi vào Trung Nguyên qua ngã Tứ Xuyên tới định cư ở Hồ Bắc bên bờ sông Dương Tử, còn theo dân gian thì ông Bàn cổ chính là ông Bành tổ. Theo dân gian truyền tụng thì mồ mả của ông còn ở đâu đó miền rừng núi Ngũ Lĩnh. Bàn cổ mới được đưa vào lịch sử Trung Quốc đời Tam Quốc trong quyển “Tam Ngũ lược Kỷ” của Từ Chỉnh và theo Kim Định thì Phục Hi, Nữ Oa đều xuất thân từ Di Việt ở châu Từ miền Nam sông Hoài.

    Việt tộc là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước đã cư ngụ rải rác khắp Trung nguyên (lãnh thổ Trung Cộng bây giờ) từ lâu trước khi Hán tộc du mục từ Tây Bắc tràn xuống đánh đuổi nhà Hạ của Việt tộc để thành lập triều Thương đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Tư Mã Thiên sử gia “Đại Hán” đã mạo nhận Hoàng Đế nguyên là vị thần được dân gian vùng Sơn Đông tôn kính là tổ tiên của Hán tộc (Tầu) nên xem nhà Hạ là của Tầu. Thế rồi họ thêm chữ Hoa là một hình dung từ chỉ sự cao sang vinh hiển để trước chữ Hạ để chỉ nền văn minh Hoa Hạ cao đẹp của Việt tộc là của họ.

    Bản chất của đế quốc “Đại Hán” là xâm lược và bành trướng suốt dòng lịch sử nên hết triều Thương rồi đến Chu, Tần, Hán … đã liên tiếp xâm lược đẩy lùi Việt tộc xuống phương Nam. Năm 939 chiến thắng Bạch Đằng Giang lịch sử mở đầu thời kỳ độc lập của dân tộc. Hán tộc đã bao lần xâm lược nước ta nhưng đều thất bại thảm hại cho đến ngày nay, Trung Cộng lại xâm lấn lãnh thổ Việt Nam với sự tiếp tay của tập đoàn CS Việt gian bán nước.

    Bước sang thiên niên kỷ thứ ba, ánh sáng của sự thật soi rọi vào quá khứ bị che phủ hàng ngàn năm bởi kẻ thù Hán tộc bành trướng. Trong thiên niên kỷ thứ hai, nhân loại sửng sốt trước cái gọi là “Nghịch lý La Hy” khi trước đây nhân loại cứ tưởng tất cả nền văn minh Tây phương là của đế quốc Hy Lạp La Mã để rồi sau đó thấy rằng hầu hết các phát minh đến từ Trung Quốc ở phương Đông. Cuối thiên niên kỷ thứ hai, nhân loại lại ngỡ ngàng khi thấy rằng cái gọi là nền văn minh Trung Quốc lại chính là nền văn minh của đại chủng Bách Việt.

    Một sự thật không thể phủ nhận được là “Huyền tích về Thánh Gióng tức Phù Đổng Thiên Vương” đánh tan giặc Ân vào đời Hùng Vương thứ 8 đã được chính thư tịch cổ Trung Quốc xác nhận sự hiện hữu của quốc gia Văn Lang lúc đó còn ở Quý Châu TQ bây giờ. Ngày nay, với sự tiến bộ của các khoa Khảo cổ học, khoa Khảo Tiền Sử và Khoa Di Truyền học nên tất cả sự thật lịch sử đã được phục hồi một cách khách quan trung thực. Huyền tích đã trở thành một sự thật lịch sử nhưng chúng ta vẫn nhìn về lịch sử xa xưa với những truyền kỳ có thêm phần huyền ảo để sự thật lịch sử được điểm tô hư cấu như một “Sự Tích” có vẻ thi vị huyền hoặc đẹp như một “Áng Sử Thi” của dân tộc chúng ta.

    Phạm Trần Anh

    Khẩu Trang hay ?

    On Apr 7, 2020, at 10:39 AM, “vntuluc@yahoo.com” <vntuluc@yahoo.com> wrote:

    Kính thưa quý vị Giáo sư và quý Niên trưởng,
    Kính thưa GS Bích và GS Song Thuận,
    Về việc che mặt để giảm thiểu lây lan COVID-19, xin cho chúng em biết nên dùng chữ “khẩu trang” hay “mặt nạ” khi chuyển dịch từ chữ “mask” sang?
    Kính,

    LyLy

    Góp ý – GS Thieu V Vo

    On Tue, Apr 7, 2020 at 12:31 PM Thieu V Vo <thieuvo@sbcglobal.net> wrote:
    Kính thưa quý Thầy Cô và Quý VịTheo tôi dùng chữ khẩu trang cũng không chính xác cho lắm! Nó có vẻ Tàu lai! Nhưng lâu nay bên CSVN dùng nhiều vì họ chạy xe gắn máy che miệng lại để chống khói xăng độc! Ai cũng hiểu được khẩu trang là cái gì!!Dùng để che miệng thì “khẩu trang” khá đúng!Nay với vụ Coronavirus đa số che cả mũi và miệng thì “khẩu trang” không còn đúng 100%!Tuy nhiên người ta hiểu mình muốn nói cái gì!Cách nói hay nhất là “miếng vải che mũi miệng”Hơi dài, tiếng Việt rõ ràng và chính xác!Nhưng không sai !!!Còn mặt nạ thì trong trường hợp này sai! Đâu có che hết cả khuôn mặt mà nói là mặt nạ!Chữ mask bên tiếng Anh theo tôi hơi nghèo hơn Tiếng Việt vì nó chỉ chung chung cái gì che kín hết mặt hay một phần là…mask!!! Mặt nạ khi mang vào mình không nhận người đó là ai!! Đây là suy nghĩ của tôi! Xin nghe nhiều ý kiến hay hơn đúng hơn của các Thầy Cô và quý vị!Thank You

    Góp ý – GS Nguyễn Song Thuận

    Thưa quý vị,

    Theo tôi hiểu, có nhiều “chữ ghép” hay (từ ghép) không phải là “Hán tự chính thống” ạ (Người Tầu không nói hay viết như thế). Thí dụ “khám đường” ta hiểu là “nhà tù” (nhưng đối với người Tầu, “ngục thất” mới là nhà tù), mặc dù tách riêng từng chữ:  “khám” và “đường” đều có nguồn gốc nghĩa từ chữ Hán.Tương tự, người Hán có lẽ không định nghĩa chữ “khẩu trang” như ta nghĩ (Ta hiểu trang là trang phục, quần áo, khăn tay… và có chữ “khẩu = mồm, miệng, nên hiểu là “khăn che miệng”). Tôi tra HVTĐ của Đào Duy Anh, không thấy “khẩu trang”.
    Tra “Đại TĐ” của N.N.Ý: “Khẩu trang” dt. Đồ bằng vải được may nhiều lớp, có dây đeo, dùng để che miệng, che mũi, chống bụi bậm, độc khí hoặc chống rét: Khi vào phòng mổ các bác sĩ đều đeo khẩu trang.
    Vả lại chữ “khẩu” cũng có nhiều nghĩa lắm ạ!

    ST

    Góp ý GS Trần Huy Bích

    On Wednesday, April 8, 2020, 09:33:26 PM PDT, HBTran <huybichtran@gmail.com> wrote:

    Tôi thành thật xin lỗi cô LyLy ở chỗ đã không viết trả lời ngay từ hôm qua. Giữa giai đoạn hiện nay, đúng là chúng ta cũng có khá nhiều mối quan tâm khác. Cũng cám ơn thầy Thiệu đã viết khá cặn kẽ khi phân tích các tiếng “khẩu trang” và “mặt nạ.”

    Một số người không thích tiếng “khẩu trang” vì đó là một từ gốc Hán, và cho rằng trong nước đã sao chép từ ấy của CS Trung Hoa (cũng như họ đã sao chép một số từ khác của người Tàu như “nhập khẩu, xử lý, đăng ký, tham quan …”). Riêng với từ này, tôi xin được … “bào chữa” cho bà con trong nước.

    Để dịch ý “medical mask,” người Trung Hoa dùng từ口罩  kŏuzhào (khẩu trạo). Đôi khi họ nói rõ là 醫用口罩 yī  yòng kŏuzhào (y dụng khẩu trạo).

    Chữ 罩 (trạo, cũng phát âm là “tráo”) ở bộ Võng (= lưới), có nghĩa là “che, phủ lên.”  “Y dụng khẩu trạo” “vật để che miệng dùng trong y khoa.” Với người TH,  từ ấy dùng cho ý “medical mask” rất thích hợp. Phía sau là hai đoạn về từ ấy trong  Anh Hán Từ Điển do Đại học Oxford ấn hành (= Oxford Advanced Learner’s English-Chinese Dictionary) , ấn bản năm 1989, được in lại năm 2002; và trong The Pinyin Chinese-English Dictionary (= Hán Anh Từ Điển) của Beijing Foreign Language Institute (Beijing ; Hong Kong : Commercial Press, 1983).

    Chúng ta thấy từ “khẩu trang” trong nước đang dùng không phải là “sao chép của Tàu.” Công bình mà nói, “khẩu trang” cũng chưa phải một từ hoàn hảo vì mới chỉ có nghĩa “trang phục cho miệng” (không nói gì tới mũi). Nhưng dù sao, từ này đã được đưa vào Từ Điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ Học trong nước, do Gs. Hoàng Phê chủ biên (bản in năm 2003, trang 496), và đã trở nên thông dụng với bà con trong nước. Nha sĩ Cao Minh Hưng có lý khi nghĩ rằng chúng ta có thể dùng.  

    Nhưng từ ấy chưa hoàn hảo (dùng chữ Hán, phạm vi chưa đủ). Thầy Thiệu cũng có lý khi muốn tìm một từ tiếng Việt thuần túy. Từ “miếng vải che mũi miệng” thầy đề nghị rất chính xác nhưng quả là hơi dài. Tôi không rõ làm ngắn hơn đôi chút như “khăn che mũi miệng” hay “khăn che miệng” đã được chưa, xin các thầy các cô cân nhắc, bàn thảo thêm. Trong tiếng Anh, cũng có chỗ gọi là “mask,” có chỗ gọi là “mouth covering.” Một vật có nhiều tên khác nhau là chuyện thường.

    Trong tiếng Việt, cũng nhiều trường hợp một vật (hay con vật) có 2, 3 tên. Con hổ có khi được gọi là con cọp, con hùm, hay “ông ba mươi,” chúng ta đều hiểu cả. Con mèo cũng được gọi là con mãn hay con miu. Dùng từ “khẩu trang” đã thông dụng ở trong nước (như nha sĩ CM Hưng), hay cố làm ngắn hơn từ thầy Thiệu đề nghị (miếng vải che mũi miệng), đều là những việc làm có lý và hữu ích. Mong cô LyLy sẽ hài lòng.

    Thân quý,

    thb

    Góp ý

    On Thursday, April 9, 2020, 1:04:15 AM PDT, vntuluc@yahoo.com <vntuluc@yahoo.com> wrote:

    Kính thưa quý vị Giáo sư và quý Niên trưởng,
    Kính thưa GS Bích và GS Song Thuận,
    Chúng em cảm ơn thầy Thiệu, nhà văn Bích Huyền, nha sĩ CM Hưng, quý niên trưởng Lân và Triều cùng 2 giáo sư Thuận và Bích đã bỏ thì giờ phân tích, hướng dẫn và chia sẻ suy nghĩ về các chữ “khẩu trang, mặt nạ”.  Chúng em cũng mong là GS TC Trí sẽ góp ý trong câu hỏi này vì GS Trí rất gần gũi với các sinh viên đại học Mỹ gốc Việt.
    Với chủ trương ủng hộ “tiếng Việt trong sáng” và trong môi trường dạy Việt ngữ, chúng em xin phép sẽ dùng “khăn che” khi nói/viết văn tắt, và đầy đủ hơn: “khăn che miệng mũi” khi cần nói/viết chi tiết và chính xác hơn.  Cảm ơn GS Bích đã dẫn dắt những nguồn tự điển.  Chúng em noi theo phương thức làm việc đó và xin trình bày suy nghĩ của mình nay đã được học hỏi từ quý Giáo sư và quý Niên trưởng.  
    Chúng em cũng có được quyển Tự Điển Tiếng Việt vủa Viện Ngôn Ngữ Học xuất bản, ấn bản lần thứ bảy, đợt 2, năm 2000 – cũng trang 496 có định nghĩa của “khẩu trang” như GS Bích đã trích dẫn.  Nhưng cũng trong quyển tự điển này, là những định nghĩa của “sự cố”, “liên hệ”, “giáo viên”, “động viên” v.v…. đã và đang được dùng thiếu rõ ràng và một cách nghèo nàn từ sau 1975, khiến cho chúng em rất e dè, thường chỉ tham khảo để hiểu nghĩa muốn diễn đạt trong ngôn từ và các bài viết sau 1975 – nhưng không nhất thiết dùng đến nó trong đối thoại với mọi người, nhất là với các học trò Việt ngữ.  GS Bích cũng đã trích dẫn ý nghĩa của chữ “mask” theo tự điển Hán Anh do ĐH Oxford ấn hành, “covering the face, or part of it” – hoặc ngay cả tự điển uy tín thuần Mỹ là Merriam-Webster (www.m-w.com) cũng định nghĩa tương tự như thế.
    Rõ ràng chúng ta nhìn ra “khẩu trang” là thiếu chính xác, tuy nó đã được ra đời sau “sự cố” 1975 – vì ngôn ngữ vốn dĩ là “sinh” ngữ, cần/phải có thêm bớt với thời gian.  Người miền nam Việt Nam thuở trước 1975 đâu phải dùng đến khăn che miệng mũi mỗi ngày, mỗi khi ra đường như bây giờ, cho nên 2 chữ “khẩu trang” là sản phẩm của thời hậu VNCH.  Nếu phải chọn giữa: nghiêng về Hán Việt hay gốc nghĩa Hán Anh/Merriam-Webster, thì chúng em chọn Hán Anh/Merriam-Webster.  Định nghĩa “mặt nạ” trong tự điển Việt Nam không “thoáng” bằng định nghĩa “mask” của tiếng Anh (xin lỗi được suy nghĩ ngược lại với thầy Thiệu) nhưng lại rất đồng ý với thầy Thiệu để chọn dùng những chữ Việt đơn giản và rõ nghĩa hơn. Tuy nhiên “mask” được biến chế từ nhiều chất liệu khác nhau, tùy nhu cầu, và không nhất thiết là từ vải.
    Tóm lại, xin thưa:-  “Chúng em bức xúc, khẩn trương liên hệ với quý giáo viên và quý học giả về những sự cố từ vựng, nhưng hiện với phong trào động viên chống đại địch, nhắc mọi người mang khẩu trang khi ra khỏi nhà sẽ đem lại nhiều phúc lợi cho bản thân và mọi người”.Thì:-  “Chúng em liên lạc với quý giáo sư và quý niên trưởng mong để tham khảo về những chữ nghĩa còn khá mới mẻ trong cộng đồng tỵ nạn, ngõ hầu cùng nhau đẩy mạnh việc mang khăn che miệng mũi để làm giảm lây lan mỗi khi cần ra khỏi nhà trong thời điểm đại dịch này.”
    Nếu chúng ta có thể tiếp tục thảo luận hoặc tìm hiểu thêm để đưa đến việc cùng đồng ý dùng thống nhất trong cộng đồng tỵ nạn thì “khăn che” hoặc “khăn che mũi miệng”, hoặc một cụm chữ nào khác hay hơn, sẽ trở thành một tiếng Việt trong sáng và quen thuộc, được phổ biến thay cho “khẩu trang”.  Rất mong quý giáo sư và quý niên trưởng châm chước cho những suy nghĩ non trẻ của chúng em.
    Kính mến,

    LyLy

    Góp ý GS Nguyễn Song Thuận

    Kính thưa quý vị,

    Như vậy, chúng ta có các “từ”: “khẩu trang”, “khăn che mũi miệng”, “mặt nạ y tế”… Chính tả tiếng Việt được “giàu” thêm chữ …

    Tôi đồng ý với quý vị là từ ngữ “khẩu trang” chưa… toàn hảo 100%. Tuy nhiên, đây không phải là tiếng … người Tầu dùng (thay cho chữ “mask y tế”)… Vả lại, khi ta viết ” khẩu trang”, người Tầu không biết và không hiểu ta viết gì, phải không ạ? Như vậy, từ ngữ “khẩu trang” là… chữ Việt hẳn hoi… có dấu hỏi.. không giống chữ Tầu tí nào cả…

    Một điều nữa, một số người đã lầm “định nghĩa” với “danh từ” rồi “ngây ngô” gọi…  “xưởng đẻ”… “người lái”… “máy bay lên thẳng”…

    Ngoài ra…  “chữ Hán” mà người Tầu dùng ngày nay, “có thể” là do…  Tổ tiên ta sáng chế… và góp công sức không nhỏ để hoàn thiện… (việc này…  xin nhà biên khảo Phạm Trần Anh lên tiếng).

    Mục đích của chúng ta là “Thống nhất cách viết chữ Việt” và “dùng tiếng Việt một cách trong sáng, rõ ràng”… Xin cám ơn sự đóng góp ý kiến của toàn thể quý vị.

    Song Thuận