Ít điều cần biết về nhà giáo dục Chu Văn An

Tượng Chu Văn An trên bàn thờ tại Văn miếu – Quốc tử giám Hà Nội(Những chữ Hán trên đôi câu đối sẽ được giải thích ở cuối bài)

Từ Mai Trần Huy Bích

  • Trong ít hôm vừa qua, cộng đồng mạng người Việt huyên náo hơn mức bình thường.

    Một YouTube được đưa ra, trong đó người thực hiện và trình bày đánh giá Chu Văn An, một nhà giáo dục được tôn kính từ thế kỷ 14 là “rất tệ,” là “tối,” rồi đưa tới một lời miệt thị rất nặng, “thằng cha đó là một thằng cà chớn.” Phản ứng lập tức đến từ rất nhiều phía, bộc lộ một niềm phẫn nộ tới cùng độ. Trong những phản đối ấy có một vài quá đáng, tuy lăng mạ mạnh mẽ nhưng chưa vạch được rõ người đưa ra lời phê phán đã sai ở những điểm nào. Giữa hàng trăm, hàng ngàn lời buộc tội, người viết những dòng này đọc được một lời bênh. Nhưng người bênh có một điểm sai, tưởng Chu Văn An làm đến chức Tể tướng và có quyền rất lớn trong triều Trần.

    Để đạt được một nhận định vô tư và khách quan, bài này xin được duyệt lại sử sách Việt Nam các đời trước, xem tiền nhân đã chép về Chu Văn An ra sao, cùng tìm hiểu thêm xem trong thời của ông (qua bốn triều vua Trần Minh tông, Hiến tông, Dụ tông, Nghệ tông), Chu Văn An đã có vị trí như thế nào.

    Để làm được việc ấy, chúng tôi xin chép nguyên văn hay tóm lược những đoạn viết về Chu Văn An trong:

    – Hai bộ chính sử: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (từ sau xin gọi tắt là Toàn Thư, bộ sử của nhà Lê, do Ngô Sĩ Liên và một số sử quan sau ông biên soạn), và Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (từ sau xin gọi tắt là Cương Mục, bộ sử của nhà Nguyễn, do Quốc Sử Quán triều Nguyễn biên soạn).

    – Hai bộ sử danh tiếng của học giả tư nhân: Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thời Sĩ (1726-1780), một đại thần, cũng là một trí thức, sử gia rất có danh vọng cuối đời Lê; và Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim (1883-1953), một học giả, sử gia, và nhà giáo dục có uy tín trong nửa đầu thế kỷ 20.

    – Hai bộ truyện ký: Nam Ông Mộng Lục của Hồ Nguyên Trừng (1374-1446), con trưởng của Hồ Quý Ly, sống sau Chu Văn An không bao lâu; và Tang Thương Ngẫu Lục của Phạm Đình Hổ (1768-1839) và Nguyễn Án (1770-1815), hai danh sĩ sống vào cuối thế kỷ 18 qua đầu thế kỷ 19.

    – Hai bộ sách nghiên cứu: Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, thiên “Nhân vật chí,” của Phan Huy Chú (1782-1840), một học giả uyên bác đầu triều Nguyễn; và Lược Truyện Các Tác Gia Việt Nam do Trần Văn Giáp (1902-1973), một học giả nghiêm túc cận đại làm chủ biên.

    – Chúng tôi cũng xin ghi thêm một bài về Chu Văn An trong một cuốn sách giáo khoa dành cho học sinh Việt Nam bậc Tiểu học cho tới năm 1945. Đó là cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Sơ đẳng (lớp Ba những năm sau), tác giả là bốn nhà giáo dục có uy tín trong thời kỳ Pháp thuộc: Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận.

    Trước hết, ĐVSK Toàn Thư chép về Chu Văn An như sau:

    “An (người Thanh Đàm ), tính cương nghị, thẳng thắn, sửa mình trong sạch, bền giữ tiết tháo, không cầu lợi lộc. Ông ở nhà đọc sách, học vấn tinh thông, nổi tiếng gần xa, học trò đầy cửa, thường có kẻ đỗ đại khoa, vào chính phủ… Kẻ nào xấu thì ông nghiêm khắc trách mắng, thậm chí la hét không cho vào… Minh tông mời ông làm Quốc tử giám Tư nghiệp, dạy Thái tử học. Dụ tông ham chơi bời, lười chính sự, quyền thần nhiều kẻ làm trái phép nước, An khuyên can, [Dụ tông] không nghe, bèn dâng sớ xin chém bảy tên nịnh thần, đều là những kẻ quyền thế được vua yêu. Người bấy giờ gọi là “Thất trảm sớ”. Sớ dâng lên nhưng không được trả lời, ông liền treo mũ về quê. Ông thích núi Chí Linh, bèn đến ở đấy…”

    Chu Văn An được mời ra làm quan trong đời Trần Minh tông, giữ chức Quốc tử giám Tư nghiệp. Khi mất năm 1370 trong đời Trần Nghệ tông, ông vẫn ở chức ấy. Toàn Thư chép:

    “Quốc tử giám Tư nghiệp Chu An mất, được truy tặng tước Văn Trinh công, cho tòng tự ở Văn miếu.” ¹

    (Danh hiệu ông thực ra là Chu An, sau khi mất được ban tên thụy là Văn Trinh và tặng tước Văn Trinh công. Thời xưa thường tránh nêu tên húy, nên sử sách nhiều đời gọi ông là “Chu Văn Trinh công.” Dần dần ông được quen gọi là Chu Văn An).

    Cương Mục chép như sau:

    “Chu An tính cương trực, thanh cảnh, giữ tiết khắc khổ thanh tu, không cầu danh lợi hiển đạt. Ở nhà đọc sách, học nghiệp tinh thâm, thuần túy. Gần xa nghe tiếng, đến học rất đông. Học trò nhiều người thi đậu cao, làm quan to, như Phạm Sư Mạnh và Lê Quát đã làm đến Hành khiển, thời thường lui tới thăm hỏi, vẫn cứ thụp lạy ở bên giường thày, hễ được thày nói chuyện một chút thì lấy làm mừng lắm. Hễ kẻ nào làm điều lầm lỗi trái ý thì thày quở trách ráo riết, có khi quát mắng đuổi ra…Dưới triều Trần Minh tông, ông được vời làm Quốc tử Tư nghiệp, dạy Thái tử học. Đến Trần Dụ tông ham mê chơi bời, xao lãng chính sự, bọn quyền thần làm nhiều sự trái phép. Chu An can không nghe, bèn dâng sớ xin chém bảy tên nịnh thần, đều là những kẻ có thế lực và được cưng chiều cả. Bấy giờ gọi là “Thất trảm sớ”. Sớ dâng lên, không được trả lời, Chu An liền treo trả mũ áo, trở về điền viên… Thiên hạ đều khen là người có khí tiết cao. Được tin Trần Nghệ tông lên làm vua, Chu An mừng lắm, chống gậy đến bái yết, xong lại xin về, rồi mất ở nhà. Nhà vua sai quan đến tế viếng, đặt tên thụy là Văn Trinh, được thờ phụ ở Văn Miếu.” ²

    Tác giả chính của bộ Toàn Thư, sử gia Ngô Sĩ Liên, bình luận thêm như sau:

    “Tư thế đường hoàng mà đạo làm thầy được nghiêm, giọng nói lẫm liệt mà bọn nịnh hót phải sợ… Ông thực đáng được coi là ông tổ của các nhà nho nước Việt ta mà thờ vào Văn Miếu.” ³

    Xin được bổ túc: Khi Trần Minh tông trao cho ông việc dạy Thái tử, đó là Thái tử Trần Vượng, sau nối ngôi là vua Hiến tông. Nhưng Hiến tông chẳng may mất sớm khi mới 22 tuổi, người em lên ngôi là Dụ tông. Những năm đầu của triều Dụ tông chưa suy sút lắm vì Minh tông vẫn còn trong vai Thái Thượng hoàng. Chỉ sau khi vua Minh tông qua đời, Dụ tông ham vui chơi, bỏ bê chính sự, gần bọn tiểu nhân, triều chính mới suy. Trong phần sau sẽ xin trình bày rõ hơn về những điểm ấy.

    Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thời Sĩ chép:

    “Quan Quốc tử Tư nghiệp là Chu Văn An mất, Vua sai quan dụ tế, cho tên thụy là Văn Trinh, được thờ ở Văn miếu theo hàng tiên hiền.”

    Sau khi nhắc lại những chi tiết Toàn ThưCương Mục đã nói tới, “người thanh tĩnh, giữ tiết hạnh khắc khổ, không cầu lợi lộc cao sang, chỉ ở nhà đọc sách, có nhiều học trò làm nên,” và việc “vua Dụ tông ham chơi, nhiều quyền thần làm điều phạm pháp, ông dâng sớ xin chém 7 tên nịnh thần …” Ngô Thời Sĩ cung cấp thêm chi tiết sau:

    “Khi bình xong nội nạn (chỉ việc Dương Nhật Lễ muốn dứt ngôi nhà Trần), ông mừng lắm, chống gậy lên yết mừng vua (Nghệ tông), rồi lại trở về núi.” ⁴

    Trong Việt Nam Sử Lược, học giả Trần Trọng Kim cho biết rõ hơn về tình trạng gian thần lộng hành trong triều vua Dụ tông:

    “Hiến tông không có con, Minh tông thượng hoàng lập người em tên là Hạo lên làm vua, tức là vua Dụ tông. Trong những năm Thiệu-phong, tức mười mấy năm đầu, tuy Dụ tông làm vua, nhưng quyền chính trị ở Minh tông Thượng hoàng quyết đoán, cho nên dẫu có mấy năm tai biến mất mùa nhưng việc chính trị còn có thứ tự. Từ năm Đại-trị nguyên niên (1358) trở đi, Thượng hoàng mất rồi, bọn cựu thần như ông Trương Hán Siêu, ông Nguyễn Trung Ngạn cũng mất cả, từ đó việc chính trị bỏ trễ nải. Kẻ gian thần mỗi ngày một đắc chí. Vua Dụ tông về sau cứ rượu chè chơi bời, xây cung điện, đào hồ đắp núi, rồi cho gọi những người nhà giàu vào trong điện để đánh bạc. Bắt các quan thi nhau uống rượu, ai uống được một trăm thăng thì thưởng cho hai trật. Chính-sự như thế, cho nên giặc cướp nổi lên như ong … Dân tình khổ sở. Cơ nghiệp nhà Trần bắt đầu suy từ đấy.”

    ⁵Toàn Thư
    cũng cho biết từ năm Đại Trị nguyên niên (1358) trở đi, vua Dụ tông “chơi bời quá độ, cơ nghiệp nhà Trần suy yếu.” Có lần vua ngự thuyền nhỏ đi chơi khuya, mãi canh ba mới về, tới khúc sông vắng, bị cướp mất ấn báu, gươm báu. “Vua tự biết mình không sống lâu, càng thả sức chơi bời.” ⁶

    Sau khi dâng biểu can ngăn không hiệu quả, Chu Văn An đành dâng “Thất trảm sớ.” Tuy thế, những kẻ ông xin chém là những tên gian nịnh, đã kết thành bè đảng, lấy được lòng tin của vị vua bê tha và ham vui. Nếu không có uy tín thật cao, Chu Văn An đã bị họ sát hại. Có khi cũng vì lẽ ấy ông phải lui về núi ẩn cư. Nếu còn ở kinh đô, không khỏi bị họ coi là “cái gai trong mắt.”

    Tập truyện ký đầu tiên chép về Chu Văn An là Nam Ông Mộng Lục của Hồ Nguyên Trừng. Chu Văn An trung với nhà Trần trong khi thân phụ Hồ Nguyên Trừng là Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần. Tuy thế, Hồ Nguyên Trừng vẫn viết về Chu Văn An với đầy trân trọng và thương tiếc:

    “Chu An, hiệu Tiều Ẩn, người Thượng Phúc…Tính ông liêm khiết cương trực. Ở nhà thường thích đọc sách, học vấn tinh thuần, tiếng vọng xa gần. Học trò đầy cửa … An điềm đạm, ít ham muốn, không đi thi. Khoảng năm Chí Nguyên, Trần Minh vương bái mời làm Quốc tử Tư nghiệp, dạy Thế tử học …Minh vương mất, con là Dụ vương chơi bời, bỏ chính sự, quyền thần làm nhiều điều trái phép. An nhiều lần can ngăn không nghe, lại dâng sớ xin chém bảy tên gian thần đều hạng quyền thế, người đương thời gọi là “Thất trảm sớ.” Dâng lên không trả lời, An treo mũ từ quan, về với vườn ruộng. Sau Dụ vương mất, nước có loạn. Quần thần đón lập Nghệ vương. An nghe rất mừng, chống gậy yết kiến, rồi lại về làng, từ chối không nhận chức tước. Ban cho hiệu Văn Trinh tiên sinh, hậu lễ tiễn đưa. Chẳng bao lâu, An mất ở nhà. Nhân sĩ đô thành cảnh ngưỡng cao phong, không ai là không thở than thương tiếc.” ⁷

    Trong Tang Thương Ngẫu Lục viết vào đầu thế kỷ 19, sau khi Chu Văn An tạ thế đã trên 400 năm, hai tác giả Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án cũng nhắc lại những chi tiết như trong các tài liệu trước. Hai ông thêm lời bình luận, “Sĩ phu đều kính ngưỡng như núi Thái sơn, sao Bắc đẩu,” và chép lại bài thơ ca tụng Chu Văn An của Băng Hồ tướng công Trần Nguyên Đán (tôn thất đời Trần, 1325 hay 1326 – 1390) mà câu đầu là:

    Phủ miện hoàn khuê tâm dĩ hôi
    (Đối với mũ áo của triều đình và ngọc hoàn khuê cầm tay [y phục của đại thần khi vào chầu thiên tử], lòng đã nguội lạnh như tro). ⁸

    Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú là một tác phẩm đồ sộ, chia làm 10 thiên. Thiên thứ II, “Nhân vật chí” từ Quyển VI đến Quyển XII. Cuộc đời Chu Văn An được chép ở đầu Quyển XI, “Các nhà nho có đức nghiệp.”

    Sau khi nhắc lại một số điều chúng ta đã biết qua các tài liệu trước, nhà bác học họ Phan viết thêm: “Khi Dụ tông mất, ngôi nhà Trần sắp tuyệt. Nghe tin quần thần đón lập Nghệ tông, ông rất mừng, chống gậy lên yết kiến. Rồi lại xin về làng, phong chức gì cũng từ chối không nhận. Vua lấy lễ tôn kính, sai quần thần đưa về. Không bao lâu ông chết ở nhà.” Phan Huy Chú bình luận, “Cái học của ông tinh túy chân chính… Đạo đức ông làm khuôn mẫu, đương thời ai cũng tôn trọng… Ai cũng khen phong độ của ông là cao thượng.” ⁹

    Phan Huy Chú cũng trích dẫn một bài thơ của Trần Nguyên Đán (đã nhắc tới ở trên) làm sau khi Chu Văn An được vua Trần Minh tông “bái phong” làm Quốc tử Tư nghiệp. Xin được dẫn 3 câu đầu trong bài thơ 8 câu ấy:

    Học hải hồi lan, tục tái thuần
    Thượng tường sơn đẩu đắc tư nhân
    Cùng kinh bác sử công phu đại …
    (Xoay luồng sóng trong biển học để phong tục lại được thuần hậu
    Nhà trường đã được bậc đạo đức như Thái sơn, Bắc đẩu đến dạy
    Đọc hết kinh, xem rộng sử, công phu rất lớn …) ¹⁰

    Học giả Trần Văn Giáp (thân phụ của các Gs. Trần Văn Dĩnh, Trần Văn Kiện, giáo sư tại Đại học Luật khoa Sàigòn trước năm 1975) là một nhà nghiên cứu uyên bác nhưng cẩn trọng, mỗi chữ, mỗi câu đều có cân nhắc. Trong cuốn Lược Truyện Các Tác Gia Việt Nam do ông chủ biên, phần về Chu Văn An chiếm gần hai trang với lời tóm lược như sau: “Ông là người tính nết ngay thẳng, trong sạch, có tài văn chương, uyên thâm về đạo lý nho học …Khi ông mất, được thờ tại Văn miếu, cùng hàng với các bậc hiền triết, và có đền thờ riêng nơi nhà ở ẩn của ông trên núi Phượng Hoàng.” Trong sách cũng nói qua về việc dựng đền, các câu đối trong đền, cùng liệt kê các tác phẩm của Chu Văn An. ¹¹

    Những người Việt được đi học từ lớp tuổi 65, 66 trở lên đều đã học qua, hay ít nhất biết qua, bộ Quốc Văn Giáo Khoa Thư do các cụ Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận soạn. Bộ này được Nha Học Chính Đông Pháp xuất bản, và được dùng làm tài liệu giáo khoa chính thức trong các trường tiểu học cho tới năm 1945, làm tài liệu tham khảo ít nhất cho đến năm 1954. Bài về Chu Văn An là bài thứ 34 trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Sơ đẳng. Nửa sau của bài ấy như sau:

    “Vua nghe ông là bậc đạo đức mô phạm, triệu vào kinh cho làm quan để dạy Thái tử. Sau ông thấy chính sự trong triều suy đồi, bọn quyền thần lắm kẻ làm bậy, ông dâng sớ xin chém người gian nịnh. Vua không nghe lời. Ông bèn từ chức, không thiết gì đến công danh quyền lợi nữa.
    Người trong nước ai cũng khen ông là bậc cao hiền. Khi ông mất, vua cho đem vào thờ trong Văn miếu, ngang hàng với các bậc tiên nho.” ¹²

    Trong tất cả các tài liệu kể trên, suốt một dòng thời gian 600 năm, từ tác phẩm đầu tiên của Hồ Nguyên Trừng (sinh năm 1374) đến tác phẩm cuối dưới sự chủ biên của Trần Văn Giáp (mất năm 1973), Chu Văn An đều được trình bày là một nhân vật đáng kính ngưỡng với cốt cách thanh cao.

    Trong Quyển V của Kiến Văn Tiểu Lục, bàn về tài năng, phẩm hạnh con người, nhà bác học Lê Quý Đôn viết, “Chu An dâng sớ xin chém bọn nịnh thần, làm rung động cả trong triều ngoài quận, rồi cáo quan trả mũ áo về nhà, không chịu tước lộc bó buộc, vua chúa phải tôn trọng, công khanh phải kính phục, đấy là bậc thanh cao nhất.” ¹³

    Trong kho tàng văn học Việt Nam, thơ văn và câu đối ca tụng Chu Văn An rất nhiều. Để làm tiêu biểu, xin được dẫn một bài thơ của Đặng Minh Khiêm (1456? – 1522?) trong Việt Giám Vịnh Sử Tập:

    Thất trảm chương thành tiện quải quan
    Chí Linh chung lão hữu dư nhàn
    Thanh tu khổ tiết cao thiên cổ
    Sĩ vọng nham nham ngưỡng Thái san

    (Thất trảm sớ dâng rồi, giải quan
    Chí Linh cao ẩn giữa thanh nhàn
    Sửa mình, khí tiết soi thiên cổ
    Kẻ sĩ trông vời hướng Thái san).

    Câu đối ở đình làng Thanh Liệt (quê của Chu Văn An):

    Thất trảm sớ còn thơm, gương sử thẹn cho phường mại quốc
    Lục kinh tro chửa nguội, bảng huỳnh treo mãi chốn danh hương.

    Những chữ Hán trong cặp câu đối tại bàn thờ Chu Văn An ở Văn miếu Quốc tử giám giới thiệu phía trên:

    Bác ư sử, cùng ư kinh, thánh đạo uyên nguyên khai hậu học
    Hành dĩ lễ, tàng dĩ nghĩa, hiền nhân phong tiết thiệu tiên nho

    Nghĩa:

    Học rộng về sử, thấu nghĩa các kinh, những chỗ vực sâu, khai nguồn của đạo thánh mở cho người học sau
    Ra làm việc đời theo chữ lễ (ngụ ý theo lệnh vua triệu khi ra làm quan), lui về ở ẩn theo chữ nghĩa (khi đời vô đạo thì lui về), phong tư khí tiết của bậc hiền nhân tiếp nối các bậc tiên nho.

    Tóm lại, trong suốt dòng lịch sử dân tộc từ mấy trăm năm nay, Chu Văn An được vô cùng kính ngưỡng. Bên cạnh việc được thờ ở Văn miếu Quốc tử giám Hà Nội, ông còn đền thờ ở quê nhà, tại khu trường dạy học của ông ngày xưa, và đền thờ trên núi Phượng Sơn trong dãy núi Chí Linh, nơi ông về ẩn dật trong những năm cuối đời. Tên ông được đặt cho một trường Trung học quan trọng của Việt Nam, và trên nhiều đường phố ở Hà Nội, Sàigòn, thị xã Quảng Yên, thành phố Uông Bí …

    Chu Văn An không thành công trong việc khu trừ bọn gian thần chung quanh vua Dụ tông. Chúng ta có thể nêu nhận xét: ông “không giỏi về chính trị.” Nếu muốn, có thể coi ông là “thường, xoàng, không có mưu lược chính trị.” Tuy nhiên, nói như thế cũng có điểm bất công: từ trước tới sau, ông chỉ tự coi là một nhà giáo dục, và căn bản cũng chỉ là một nhà giáo dục. Sau khi lui về ẩn tại Chí Linh, ông lại tiếp tục làm công việc dạy học. Gọi ông là “rất tệ,” là “tối” đã có phần quá đáng. Không cách nào giải thích, không thể nào biện minh được cho việc gọi ông là “thằng cha,” “thằng cà chớn” một cách ngạo ngược và vô lễ. Cộng đồng phẫn nộ và phản ứng một cách gay gắt cũng là lẽ đương nhiên.

    Chúng ta không có tài liệu đầy đủ về quan chế đời Trần. Tất cả tài liệu về điển chương, chế độ trong hai triều Lý, Trần đã bị quân Minh tịch thu, thiêu hủy, hay đưa về Kim Lăng theo chỉ thị của Minh Thành tổ sau khi chiến thắng Hồ Quý Ly. Nhưng theo quan chế đời Lê, thì Quốc tử giám Tư nghiệp ở hàng Tòng Ngũ phẩm, dưới các chức Thượng thư (Tòng Nhị phẩm), Đô Ngự sử (Chánh Tam phẩm), Thị lang (Tòng Tam phẩm), Phó Đô Ngự sử (Chánh Tứ phẩm), Quốc tử giám Tế tửu (Tòng Tứ phẩm), và Thái y viện đại sứ (Chánh Ngũ phẩm) ¹⁴. Theo quan chế thời Nguyễn thì Quốc tử giám Tư nghiệp ở hàng Tòng Tứ phẩm ¹⁵. Đời Trần chắc không khác bao nhiêu: các học quan chỉ làm công việc dạy học, không có quyền về hành chánh, ngạch trật thường không cao. Ngoại trừ bản “Thất trảm sớ,” Chu Văn An không còn phương tiện chính thức nào khác để có thể nói lên ý hướng muốn trừ bọn gian thần.

    Ở nước Tề đời Xuân Thu bên Trung Hoa, Quản Trọng làm Tướng quốc (Tể tướng) mà không trừng trị được ba kẻ tiểu nhân Thụ Điêu, Dịch Nha, Khai Phương, luôn luôn xu nịnh Tề Hoàn công. Ngạch trật và vị thế Chu Văn An thua Quản Trọng khá xa, số gian thần, tiểu nhân đông hơn, và Dụ tông là vị vua bê tha, không sáng suốt như Tề Hoàn công. Chúng ta cần thông cảm những chỗ khó của Chu Văn An, và không nên đòi hỏi quá đáng khi phê phán ông.

    Khi dâng “Thất trảm sớ,” Chu Văn An sống trong đời vua Dụ tông. Thượng hoàng Minh tông, người có tình “tri ngộ” triệu ông ra làm quan, đã qua đời. Vua Hiến tông, vị Thái tử được ông giáo huấn, đã qua đời quá sớm khi mới 22 tuổi. Giữa ông và Dụ tông không có tương quan gì đặc biệt. Vị vua trẻ ham uống rượu, thích đánh bạc, thích đắp núi, đào hồ, xây cung điện, chắc chắn gần với bọn tiểu nhân khéo chiều chuộng và xu nịnh hơn.

    Trở lại với YouTube trong đó Chu Văn An bị miệt thị, ta có thể thấy ngay người thực hiện YouTube ấy đã có một ngộ nhận quan trọng. Tưởng rằng Chu Văn An quyền chức cao, trong khi ông chỉ là một học quan ở Ngũ phẩm. Chê ông không biết bày mưu lập kế chia rẽ bọn gian thần, trong khi ông là một nhà giáo dục thẳng tính với tâm hồn cao khiết. Lầm lẫn ấy đưa tới một hậu quả đáng tiếc.

    Với phẩm cách cao quý, Chu Văn An rất được kính ngưỡng, đã trở thành một biểu tượng về văn hóa của dân tộc từ bao đời. Buông lời hỗn xược đối với ông trong khi không nêu được lý do là một hành động dại dột, rất khó được dư luận tha thứ.

    Phân tích nguyên động lực khiến người thực hiện YouTube có hành động như thế, một số người cho rằng đây chỉ là “một phần trong một kế hoạch lớn, nhằm soi mòn, triệt hạ những giá trị tinh thần của dân tộc Việt.” Đánh tan uy tín của vị “vạn thế sư” sẽ khiến dân Việt bị hoang mang, tan rã hết niềm tin, hầu “dễ bị đồng hóa.” Có người cho rằng Chu Văn An tiêu biểu tinh phần sĩ phu khảng khái của dân tộc Việt Nam. Đập tan uy tín của Chu Văn An là ý hướng của một nhóm cầm quyền độc tài, muốn dân Việt không ai là người khí khái nữa, sẽ dễ chịu khuất phục.

    Người viết những dòng này chưa thấy vấn đề trầm trọng đến mức ấy. Cách hành xử của nhà giáo dục Chu Văn An quang minh chính đại, sáng rực rỡ như ánh mặt trời, khó ai có thể xuyên tạc. Dân tộc Trung Hoa có thành ngữ, “chó Đạo Chích sủa vua Nghiêu.” Uy tín của vua Nghiêu không tổn hại khi bị chó [của] Đạo Chích sủa.

    Có người cho rằng đây là hành động của một người cao ngạo, kiêu căng, luôn luôn nghĩ rằng mình hơn đời, vậy cần phải “độc sáng,” khác đời. Nếu đúng thế, đây là một việc làm quá táo bạo, dựa trên một nhận thức thiếu chính xác. Việc làm ấy sẽ khiến mức tín nhiệm còn lại bị sụp đổ. Danh vọng, uy tín của một vĩ nhân như Chu Văn An bền vững đã trên 600 năm nay. Một người ở thời chúng ta, dù thông minh tới cỡ nào, làm sao lay đổ được?



    Tượng Chu Văn An tại trường Trung học Chu Văn An Hà Nội
    Người chụp: Quỳnh TrangXuất xứ: Trang mạng VNExpress
  • Từ Mai Trần Huy Bích

    ***
    CHÚ THÍCH
    Đại Việt Sử Ký Toàn Thư / Hoàng Văn Lâu dịch và chú thích ; Hà Văn Tấn hiệu đính (Hà Nội : NXB Khoa Học Xã Hội, 1988), Tập II, trang 151-152.

    Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục / dịch giả, Viện Sử Học (Hà Nội : NXB Giáo Dục, 1998). Ấn bản điện tử do Lê Bắc thực hiện, trang 293.

    Toàn Thư (sđd), Tập II, trang 153.

    4· Ngô Thời Sĩ. Việt Sử Tiêu Án / Bản dịch của Hội Việt Nam Nghiên Cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu (San Jose, CA: Văn Sử, 1991), trang 252-253.

    5· Trần Trọng Kim. Việt Nam Sử Lược (Sài Gòn : Trung Tâm Học Liệu, 1971), trang 173-174.

    Toàn Thư (sđd), Tập II, trang 127, 144.

    7· Hồ Nguyên Trừng. Nam Ông Mộng Lục / Trần Nghĩa dịch và chú thích (Hà Nội : NXB Văn Học, 2001), truyện thứ 7.

    8· Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án. Tang Thương Ngẫu Lục / dịch giả, Đạm Nguyên (Sài Gòn : Bộ Giáo Dục, 1970), trang 109-110.

    9· Phan Huy Chú. Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí / Tổ Phiên Dịch Viện Sử Học Việt Nam phiên dịch và chú giải (Hà Nội : NXB Khoa Học Xã Hội, 1992), Tập 1, trang 364.

    10· Phan Huy Chú (sđd), trang 365.

    11· Lược Truyện Các Tác Gia Việt Nam / Trần Văn Giáp chủ biên (Hà Nội : NXB Văn Học, 2000), trang 174-175.

    12· Quốc Văn Giáo Khoa Thư : Lớp Sơ Đẳng / Trần Trọng Kim … (Hà Nội : Nha Học Chánh Đông Pháp, 1935), trang 42.

    13· Lê Quý Đôn. Kiến Văn Tiểu Lục (Hà Nội : NXB Văn Hóa Thông Tin, 2007), trang 298.

    14· Phan Huy Chú. Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí (sđd), trang 451-452.

    15· Trần Trọng Kim. Việt Nam Sử Lược (sđd), trang 189-192.

Tượng Chu Văn An trên bàn thờ tại Văn miếu – Quốc tử giám Hà Nội(Những chữ Hán trên đôi câu đối sẽ được giải thích ở cuối bài)

“TRẢ LẠI NHỮNG GÌ …CỦA LỊCH SỬ CHO LỊCH SỬ”

Phạm Trần Anh

Lịch sử Việt là lịch sử của sự thăng trầm từ khi lập quốc đến ngày nay trải qua hàng ngàn năm đô hộ của giặc Tầu, gần một trăm năm nô lệ giặc Tây và hơn nửa thế kỷ nô dịch văn hóa ngoại lai. Trong suốt trường kỳ lịch sử, Hán tộc bành trướng với ưu thế của kẻ thắng trận và thủ đoạn thâm độc quỷ quyệt đã không những dùng mọi phương cách để đồng hóa Việt tộc bằng cách xóa đi mọi dấu vết cội nguồn, bóp méo sửa đổi lịch sử khiến thế hệ sau chỉ biết tìm về lịch sử trong một mớ “chính sử” hỗn độn mơ hồ.

Mỗi một triều đại Hán tộc đều chủ tâm thay đổi địa danh, thủy danh xưa cũ của Việt tộc cùng với ảnh hưởng nặng nề của một ngàn năm đô hộ của sự nô dịch văn hóa khiến ta chấp nhận tất cả như một sự thật mà không một chút bận tâm. Thế nhưng… Lịch sử vẫn là lịch sử của sự thật dù bị sửa đổi vùi lấp hàng nghìn năm dưới ánh sáng của chân lý khách quan trước thềm thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại.

Vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải nhìn lại toàn bộ lịch sử Việt để phục hồi sự thật của lịch sử để xóa tan đám mây mờ che lấp suốt mấy ngàn năm lịch sử bởi kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.. Trong lịch sử nhân loại, có lẽ không một dân tộc nào chịu nhiều mất mát trầm luân như dân tộc Việt với những thăng trầm lịch sử, những khốn khó thương đau. Ngay từ thời lập quốc, Việt tộc đã bị Hán tộc với sức mạnh của tộc người du mục đã đánh đuổi Việt tộc phải rời bỏ địa bàn Trung nguyên Trung quốc xuống phương Nam để rồi trụ lại địa bàn Việt Nam bây giờ. Trải qua gần một ngàn năm đô hộ, với chiến thắng Bạch Đằng Giang năm 938 của Ngô Quyền mới chính thức mở ra thời kỳ độc lập của Việt tộc. Tuy thất bại về quân sự nhưng nền văn hóa của Việt tộc đã thẩm nhập vào đất nước và con người Hán tộc để hình thành cái gọi là văn minh Trung Quốc.

Chính sử gia chính thống của Hán tộc là Tư Mã Thiên đã phải thừa nhận một sự thực là “Việt tuy gọi là man di nhưng tiên khởi đã có đại công đức với muôn dân vậy …”. Vạn thế sư biểu của Hán tộc là Khổng Tử đã ca tụng nền văn minh rực rỡ, xác nhận tính ưu việt của nền văn minh Bách Việt ở phương Nam. Trong sách Trung Dung Khổng Tử đã viết như sau:“Độ luợng bao dung, khoan hòa giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam, người quân tử ở đấy ..!  Mặc giáp cưỡi ngựa, xông pha giáo mác, đến chết không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc. Kẻ cường đạo ở đó ..”.

Trong kinh “Xuân Thu”, Khổng Tử đã ghi lại bao nhiêu trường hợp cha giết con, con giết cha, cha cướp vợ của con, con cướp vợ của cha, anh chị em dâm loạn với nhau, bề tôi giết chúa … Điều này chứng tỏ Hán tộc du mục vẫn còn dã man với lối sống du mục.ngay trong giới quí tộc chứ đừng nói đến bình dân. Thế mà chính sử Trung Quốc cứ vẫn sao chép Việt tộc là man di, các Thứ sử Thái Thú Hán vẫn lên mặt giáo hóa dân Việt trong khi Bách Việt ở phương Nam đã đi vào nền nếp của văn minh nông nghiệp từ lâu.

Chính “Vạn thế Sư biểu” của Hán tộc là Khổng Tử cũng đã phải đem những nghiên cứu, sưu tập, học hỏi của nền văn minh Bách Việt phương Nam đặt để thành những quy luật, trật tự cho xã hội phương Bắc. Tất cả những “Tứ thư, ngũ kinh” được xem như tinh hoa của Hán tộc đã được chính Khổng Tử xác nhận là ông chỉ kể lại “Thuật nhi bất tác”, sao chép lại của tiền nhân chứ không phải do ông sáng tác ra.

Ngày nay, sự thật lịch sử đã được phục hồi khi giới nghiên cứu đều xác nhận hầu hết các phát minh gọi là văn minh Trung Quốc từ nền văn minh nông nghiệp đến văn minh kim loại, kỹ thuật đúc đồng, cách làm giấy, cách nấu thủy tinh, cách làm thuốc súng, kiến trúc nóc oằn mái và đầu dao cong vút … tất cả đều là của nền văn minh Bách Việt. Chính một vị vua của Hán tộc, Hán Hiến Đế đã phải thừa nhận: “Giao Chỉ là đất văn hiến, núi sông un đúc, trân bảo rất nhiều, văn vật khả quan, nhân tài kiệt xuất ..!”. Hầu hết các học giả, các nhà Trung Hoa học đều cho rằng văn hoá Trung Quốc phát nguyên từ văn hóa Việt ở miền Nam Trung Quốc. Các sử gia Trung Quốc thời trước cố tình không thừa nhận một sự thực, đó là sự đóng góp to lớn của cư dân Hoa Nam tức người Việt cổ trong việc hình thành tạo dựng nền văn minh Trung Hoa. Học giả Eicks Kedt nhận định rằng Tư Mã Thiên, sử gia chính thống của “Đại Hán” sinh ở Long Môn thuộc Sơn Tây nên nhất quyết từ chối không để lại bất kỳ một tài liệu gì về dân Mạn Nam. Hầu như tất cả người Tầu mạn Bắc đều như vậy.  Eicks Kedt tiếc rằng những học giả Âu Tây chỉ biết ngốn nghiến sử liệu của Tư Mã Thiên hay những sử gia khác mà không chú ý đến việc bẻ quặt do sự bỏ sót nhiều sự kiện, nhất là khi nói đến các dân Man Di ngoài Hán tộc. Lý do của sự bỏ sót đó là họ đã xem Nho giáo xuyên qua lăng kính nhuộm đẫm màu Hán tộc nên chỉ nhìn nhận để có những gì thuộc miền Bắc nước Tầu mà thôi.

 Một nhà nghiên cứu về Trung Quốc khác là Terrien de la Couperie trong tác phẩm “Những ngôn ngữ trước Hán” đã nhận định: “Người Hán ngại nhìn nhận sự có mặt của những cư dân không phải là Hán tộc sống độc lập ngay giữa miền họ cai trị. Tuy họ không thể giấu được sự kiện là họ đã xâm lăng, nhưng họ đã quen dùng những danh từ đao to búa lớn, những tên địa dư rộng để bịt mắt những độc giả không chú ý, hầu che đậy buổi sơ khai tương đối bé nhỏ của họ. Muốn tìm hiểu các cư dân đó thì chỉ còn cach là đi dò tìm vết tích còn quá ít vì cho tới nay, người ta ít chú ý tới sự quan trọng lịch sử của các chủng tộc tiền Hán trừ một hai chuyện gây sự tò mò mà thôi”. Terrien de la Couperie kết luận: “Niềm tin là Trung Quốc vốn lớn lao mãi từ xưa và thường xuyên là như thế chỉ là một huyền thoại. Trái ngược lại, đó là việc mới xảy ra về sau này. Văn minh Trung quốc không phải tự nó sinh ra mà chính là kết quả của sự thâu hoá. Việc thâu hoá thì ngày nay được nhiều người công nhận, còn thâu hoá từ đâu thì trước đây cho là từ phía Tây nhưng về sau này, nhiều người cho là từ văn hoá Đông Nam …”

Theo học giả J.Needham thì Protoviets đã mang theo 25 đặc trưng văn hoá lên địa bàn cư trú mới mà các nhà nghiên cứu nhân chủng, ngôn ngữ và văn hoá liệt kê như sau:

1. Cách làm quần áo bằng vỏ cây.

2. Tục xâm mình.

3. Đốt rừng làm rẫy.

4. Kỹ thuật làm nương rẫy.

5. Kỹ thuật đào mương dẫn nước vào ruộng.

6. Kỹ thuật thuần hoá trâu để cày bừa.

7. Văn minh trồng lúa nước.

8. Đặc điểm ngôi nhà làng để dân làng tụ họp sinh hoạt.

9. Kỹ thuật trồng tre và sử dụng dụng cụ bằng tre trong sinh hoạt hàng ngày.

10. Đặc thù về giống chó đã được thuần hoá.

11. Kỹ thuật làm tranh sơn mài.

12. Văn hoá biển và sông nước.

13. Kỹ thuật đóng thuyền Tầu dài.

14. Tục đua thuyền trong các lễ hội.

15. Huyền thoại về con Rồng.

16. Tôn thờ loài Rồng này.

17. Tục thờ cúng ông bà Tiên tổ.

18. Tục giết heo để cúng bái.

19. Tục cầu tự (cầu cúng để có con nối dõi tông đường)

20.  Hội mùa Xuân, mùa Thu để trai gái tự do vui chơi để tự do lựa vợ kén chồng.

21. Tục linh thiêng hoá ngọn núi.(35bis)

22.  Văn minh Trống đồng.

23.  Kỹ thuật đúc sắt.

24.  Kỹ thuật dùng nỏ bắn tên.

25.  Kỹ thuật làm khí giới có chất độc ( Mũi tên tẩm thuốc độc).

 Sau văn hoá Hoà Bình là VĂN HOÁ BẮC SƠN cũng thuộc nền văn hoá thung lũng mà chủ nhân là cư dân ở trung châu Bắc Việt là chủ nhân của nền văn hoá Bắc Sơn. Thời kỳ này tổ tiên ta đã chuyển hẳn sang trồng trọt và chăn nuôi nhỏ nhưng vẫn còn hái lượm và săn bắt cá. Di tích hang Tham Fi còn gọi là hang ma (Spirit cave) tại Đông Bắc Thái Lan có niên đại C14 là 10-8 ngàn năm. Nhà khoa học Mỹ Chester Gorman cũng đã tìm thấy nhiều hoá thạch lớn của các loại cây trồng như trám, cau, bàng và một số loại rau như rau sắn chùa Hương nửa hoang dại nửa thuần dưỡng và những vỏ trấu ở di chỉ hang Xóm tại Hoà Bình. Thời kỳ này nghề nông trồng lúa đã bắt đầu từ vùng thung lũng rồi phát triển dần lên vùng cao.

 Điểm quan trọng được nhấn mạnh ở đây là khác với Lommel, J. Needham khẳng định rằng: 3 nếp sống văn hoá này đem vào Trung Hoa thời Tiền sử mang yếu tố “Biển” rõ rệt và có thể mô tả bằng một chữ, đó là chữ “VIỆT” mà trước kia thường gọi sai lầm là Thái cổ  (ProtoThai). Học giả lừng danh này còn chú thích rõ chữ Việt nay là quốc hiệu của một nước vùng Đông Nam châu Á: Nước Việt Nam ngày nay. Chính vì vậy, học giả Nga ông Ja.V. Chesnov đã nhận định rất sâu sắc về nền văn minh Trung Quốc như sau: Trước triều Thương, văn hoá Trung Hoa được hình thành với sự đóng góp của văn hoá phương Nam và sau triều Thương tiến bộ là do văn hoá phương Tây …

Tóm lại, người Trung Quốc mà ta thường gọi là Tầu (Hán tộc) không phải là một chủng thuần tuý và cũng không có một văn hoá riêng biệt nào. Lịch sử Trung Quốc bắt đầu từ triều đại Thương là một tộc người du mục kết quả của sự phối hợp chủng giữa Nhục Chi và Huns (Mông cổ). Kế tiếp là triều Chu cũng là một tộc du mục có hai dòng máu Mông Cổ và Hồi (Turc). Sau khi Mông Cổ chiếm được Trung Quốc đã thành lập triều Nguyên rồi khi Mãn Châu diệt triều Minh lại thành lập triều Thanh trong lịch sử Trung Quốc.

Có thể nói lịch sử Trung Quốc là lịch sử của sự xâm lăng và bành trướng đồng thời cũng bị xâm lăng nhưng tất cả kẻ chiến thắng bị sức mạnh của văn hoá của dân bị trị khuất phục để rồi tự đồng hoá với cư dân bản địa cuối cùng trở thành Hán tộc mà ta thường gọi là người Tầu. Giáo sư Wolfram Eberhard trong tác phẩm “Lịch sử Trung Quốc” đã nhận định: “Ý kiến cho rằng chủng tộc Hán đã sản sinh ra nền văn minh cao đại hoàn tự lực do những tài năng đặc biệt của họ thì nay đã không thể đứng vững, mà nó phải chịu cùng một số phận như những thuyết cho rằng họ đã thâu nhận của Âu Tây. Hiện nay, người ta biết rằng xưa kia không có một chủng tộc Tầu, cũng chẳng có đến cả người Tầu nữa, y như trước đây 2.000 năm không có người Pháp, người Suisse vậy. Người Tầu chỉ là sản phẩm của sự pha trộn dần theo một nền văn hoá cao hơn mà thôi”.

Chính sử gia Trung quốc, Chu Cốc Thành trong “Trung Quốc thông sử” viết: “Viêm tộc (Việt tộc) đã có mặt khắp nước Trung Hoa cổ đại trước khi các dòng tộc khác tràn vào nên có thể xem là chủ nhân đầu tiên. Khi Viêm Việt đã định cư, Hán tộc còn sống du mục tại vùng Tân Cương, Thanh Hải. Về sau họ theo Hoàng Hà tràn vào Hoa Bắc, chiếm đất của Việt tộc”. Nhà nghiên cứu La Hướng Lâm người Trung Quốc trích dẫn “Việt tỉnh Dân tộc Khảo nguyên” của Chung Độc Phật viết: “Cả miền đất châu Kinh (đất nước Sở), châu Dương (đất nước Việt) và châu Lương (đất nước Quỳ Việt) nghĩa là tất cả lưu vực sông Dương Tử từ Vạn Huyện ở Tứ Xuyên trở xuống đều là giống người Việt ở cả. Sách Hoa Dương Quốc chí chép miền Nam Trung gồm Quý Châu, Vân Nam là đất Di Việt xưa. Vùng đất này gồm hơn 1 chục vương quốc như Điền Bộc, Cú Đinh, Dạ Lang, Diệp Du, Đồng Sư, Việt Tuỷ …”.

Sự thực lịch sử này đã được các sử gia Trung Quốc hiện đại công nhận là Việt tộc theo sông Dương Tử tiến về phía Đông thành lập 7 tỉnh lưu vực sông Dương Tử gồm Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, Giang Tô, An Huy và Triết Giang. Dần dần Việt tộc tiến lên Hoa Bắc thành lập 6 tỉnh lưu vực Hoàng Hà là Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, Sơn Đông, Thiểm Tây, Cam Túc và phía Nam thành lập các tỉnh lưu vực Việt Giang gồm Vân Nam, Quý Châu, Quảng Tây, Quảng Đông và Phúc Kiến.

Ngày nay, các nhà nghiên cứu như VK Tinh, Wang Kwo Wu và cả nhà văn nổi tiếng Quách Mạt Nhược đều xác định là hầu hết các huyền thoại về các vị Vua cổ xưa nhất không thấy ghi trên giáp cốt đời Thương, mà chỉ ghi vào sách vở về sau này, khoảng từ thế kỷ thứ IV TDL, tức là thời kỳ xuất hiện các quốc gia Bách Việt thời Xuân thu Chiến quốc. Thực tế lịch sử này cho thấy những huyền thoại cổ xưa là của Việt tộc vì nếu là tổ tiên Hán tộc thì đã phải ghi trên giáp cốt đời Thương cũng như trong các sử sách, cốt tự văn hoặc chữ tạc trên đồ dùng. Chính vì vậy mà nhóm Tân học gọi là Nghi cổ phái thành lập năm 1920 do Quách Mạt Nhược chủ xướng đã bác bỏ thời Tam Hoàng, Ngũ Đế là của Trung Quốc.

Thật vậy, huyền thoại về thủy tổ Bàn Cổ mới được nói đến trong quyển “Tam Hoàng”, kể cả Phục Hi, Nữ Oa cũng không hề được nhắc tới trong các sách cổ xưa như Kinh Thi, Trúc thư kỷ niên và cũng không hề thấy xuất hiện trong đồ đồng hoặc bốc từ. Viêm Đế Thần Nông mới được Mạnh Tử thời Xuân thu Chiến quốc nhắc tới còn Hoàng Đế chỉ biết tới vào thế kỷ thứ III TDL khi Tư Mã Thiên đưa vào bộ “Sử Ký” của Tư Mã Thiên.

Tháng 2-1971, các nhà khảo cổ tìm được ở Liu-ch’êng-ch’iao Trường Sa thuộc vùng Hồ Nam, địa điểm tên là một cái qua còn nguyên vẹn. Trong tác phẩm “Cultural Frontiers in Ancient East Asia” của William Watson viết về những đồ vật đào lên tại tỉnh Hồ Nam trong đó có một cái qua có khắc tên một vị vua tên là Nhược Ngao. Sử Ký Tư Mã Thiên và Xuân Thu Tả Truyện viết rõ là vị vua có hiệu là Nhược Ngao là vị vua Hùng thứ 14 tên thật là Hùng Nghi hiệu Nhược Ngao cai trị vào năm 789 trước Tây Lịch. Điều này chứng tỏ thời đại Hùng Vương là có thật trong lịch sử.

Trước những sự thật của lịch sử, Trung Quốc đã phải xác nhận là nền văn hoá của họ là do hàng trăm dân tộc góp phần tạo dựng nhưng văn hoá Hán ở vùng Tây Bắc là chủ thể. Thế nhưng chính học giả Trung Quốc Wang Kuo Wei lại cho rằng nơi phát nguyên văn hoá Tầu là ở miền Đông Bắc tức vùng Sơn Đông của Lạc bộ Trãi chứ không phải ở miền Tây Bắc (Thiểm tây) như quan niệm sai lầm từ trước đến nay. Sử Trung quốc vẫn cho rằng 3 triều đại Hạ, Thương, Chu là những triều đại đầu tiên của Trung Quốc theo thứ tự, nhưng Kwang Chih Chang khám phá ra thì không phải là như vậy mà đó chỉ là 3 trong nhiều nhóm chính trị đại diện cho các chủng tộc đối nghịch tranh giành ảnh hưởng mà thôi, còn văn hoá thì đều theo như Di Việt nghĩa là cũng thờ thổ thần và cây linh. Các công trình nghiên cứu lịch sử Trung Hoa Cổ Đại được kiểm chứng bởi kết quả khoa học mới nhất đã chứng minh lịch sử Trung Hoa Thời Cổ Đại là của Đại tộc Việt và Lịch sử của Trung Quốc chỉ bắt đầu từ triều Thương 1776 TDL mà thôi.

 Theo Công trình mới nhất “Nguồn gốc nền văn minh Trung Hoa”, tổng kết trong Hội nghị Quốc tế các nhà Trung Hoa học trên toàn thế giới tổ chức tại Berkeley năm 1978, thì  không thể tìm ra đủ dấu vết chứng cớ để phân biệt giữa Hán tộc và các tộc người không phải là Tầu trên phương diện lịch sử. Giới nghiên cứu phải tìm về dấu tích văn hoá mà về văn hoá thì Hán tộc chịu ảnh hưởng của Di Việt.

Tương truyền Thần Nông phát xuất ở miền Tây Tạng (Tibet) đi vào Trung Nguyên qua ngã Tứ Xuyên tới định cư ở Hồ Bắc bên bờ sông Dương Tử, còn theo dân gian thì ông Bàn cổ chính là ông Bành tổ. Theo dân gian truyền tụng thì mồ mả của ông còn ở đâu đó miền rừng núi Ngũ Lĩnh. Bàn cổ mới được đưa vào lịch sử Trung Quốc đời Tam Quốc trong quyển “Tam Ngũ lược Kỷ” của Từ Chỉnh và theo Kim Định thì Phục Hi, Nữ Oa đều xuất thân từ Di Việt ở châu Từ miền Nam sông Hoài.

Việt tộc là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước đã cư ngụ rải rác khắp Trung nguyên (lãnh thổ Trung Cộng bây giờ) từ lâu trước khi Hán tộc du mục từ Tây Bắc tràn xuống đánh đuổi nhà Hạ của Việt tộc để thành lập triều Thương đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Tư Mã Thiên sử gia “Đại Hán” đã mạo nhận Hoàng Đế nguyên là vị thần được dân gian vùng Sơn Đông tôn kính là tổ tiên của Hán tộc (Tầu) nên xem nhà Hạ là của Tầu. Thế rồi họ thêm chữ Hoa là một hình dung từ chỉ sự cao sang vinh hiển để trước chữ Hạ để chỉ nền văn minh Hoa Hạ cao đẹp của Việt tộc là của họ.

Bản chất của đế quốc “Đại Hán” là xâm lược và bành trướng suốt dòng lịch sử nên hết triều Thương rồi đến Chu, Tần, Hán … đã liên tiếp xâm lược đẩy lùi Việt tộc xuống phương Nam. Năm 939 chiến thắng Bạch Đằng Giang lịch sử mở đầu thời kỳ độc lập của dân tộc. Hán tộc đã bao lần xâm lược nước ta nhưng đều thất bại thảm hại cho đến ngày nay, Trung Cộng lại xâm lấn lãnh thổ Việt Nam với sự tiếp tay của tập đoàn CS Việt gian bán nước.

Bước sang thiên niên kỷ thứ ba, ánh sáng của sự thật soi rọi vào quá khứ bị che phủ hàng ngàn năm bởi kẻ thù Hán tộc bành trướng. Trong thiên niên kỷ thứ hai, nhân loại sửng sốt trước cái gọi là “Nghịch lý La Hy” khi trước đây nhân loại cứ tưởng tất cả nền văn minh Tây phương là của đế quốc Hy Lạp La Mã để rồi sau đó thấy rằng hầu hết các phát minh đến từ Trung Quốc ở phương Đông. Cuối thiên niên kỷ thứ hai, nhân loại lại ngỡ ngàng khi thấy rằng cái gọi là nền văn minh Trung Quốc lại chính là nền văn minh của đại chủng Bách Việt.

Một sự thật không thể phủ nhận được là “Huyền tích về Thánh Gióng tức Phù Đổng Thiên Vương” đánh tan giặc Ân vào đời Hùng Vương thứ 8 đã được chính thư tịch cổ Trung Quốc xác nhận sự hiện hữu của quốc gia Văn Lang lúc đó còn ở Quý Châu TQ bây giờ. Ngày nay, với sự tiến bộ của các khoa Khảo cổ học, khoa Khảo Tiền Sử và Khoa Di Truyền học nên tất cả sự thật lịch sử đã được phục hồi một cách khách quan trung thực. Huyền tích đã trở thành một sự thật lịch sử nhưng chúng ta vẫn nhìn về lịch sử xa xưa với những truyền kỳ có thêm phần huyền ảo để sự thật lịch sử được điểm tô hư cấu như một “Sự Tích” có vẻ thi vị huyền hoặc đẹp như một “Áng Sử Thi” của dân tộc chúng ta.

Phạm Trần Anh

Khẩu Trang hay ?

On Apr 7, 2020, at 10:39 AM, “vntuluc@yahoo.com” <vntuluc@yahoo.com> wrote:

Kính thưa quý vị Giáo sư và quý Niên trưởng,
Kính thưa GS Bích và GS Song Thuận,
Về việc che mặt để giảm thiểu lây lan COVID-19, xin cho chúng em biết nên dùng chữ “khẩu trang” hay “mặt nạ” khi chuyển dịch từ chữ “mask” sang?
Kính,

LyLy

Góp ý – GS Thieu V Vo

On Tue, Apr 7, 2020 at 12:31 PM Thieu V Vo <thieuvo@sbcglobal.net> wrote:
Kính thưa quý Thầy Cô và Quý VịTheo tôi dùng chữ khẩu trang cũng không chính xác cho lắm! Nó có vẻ Tàu lai! Nhưng lâu nay bên CSVN dùng nhiều vì họ chạy xe gắn máy che miệng lại để chống khói xăng độc! Ai cũng hiểu được khẩu trang là cái gì!!Dùng để che miệng thì “khẩu trang” khá đúng!Nay với vụ Coronavirus đa số che cả mũi và miệng thì “khẩu trang” không còn đúng 100%!Tuy nhiên người ta hiểu mình muốn nói cái gì!Cách nói hay nhất là “miếng vải che mũi miệng”Hơi dài, tiếng Việt rõ ràng và chính xác!Nhưng không sai !!!Còn mặt nạ thì trong trường hợp này sai! Đâu có che hết cả khuôn mặt mà nói là mặt nạ!Chữ mask bên tiếng Anh theo tôi hơi nghèo hơn Tiếng Việt vì nó chỉ chung chung cái gì che kín hết mặt hay một phần là…mask!!! Mặt nạ khi mang vào mình không nhận người đó là ai!! Đây là suy nghĩ của tôi! Xin nghe nhiều ý kiến hay hơn đúng hơn của các Thầy Cô và quý vị!Thank You

Góp ý – GS Nguyễn Song Thuận

Thưa quý vị,

Theo tôi hiểu, có nhiều “chữ ghép” hay (từ ghép) không phải là “Hán tự chính thống” ạ (Người Tầu không nói hay viết như thế). Thí dụ “khám đường” ta hiểu là “nhà tù” (nhưng đối với người Tầu, “ngục thất” mới là nhà tù), mặc dù tách riêng từng chữ:  “khám” và “đường” đều có nguồn gốc nghĩa từ chữ Hán.Tương tự, người Hán có lẽ không định nghĩa chữ “khẩu trang” như ta nghĩ (Ta hiểu trang là trang phục, quần áo, khăn tay… và có chữ “khẩu = mồm, miệng, nên hiểu là “khăn che miệng”). Tôi tra HVTĐ của Đào Duy Anh, không thấy “khẩu trang”.
Tra “Đại TĐ” của N.N.Ý: “Khẩu trang” dt. Đồ bằng vải được may nhiều lớp, có dây đeo, dùng để che miệng, che mũi, chống bụi bậm, độc khí hoặc chống rét: Khi vào phòng mổ các bác sĩ đều đeo khẩu trang.
Vả lại chữ “khẩu” cũng có nhiều nghĩa lắm ạ!

ST

Góp ý GS Trần Huy Bích

On Wednesday, April 8, 2020, 09:33:26 PM PDT, HBTran <huybichtran@gmail.com> wrote:

Tôi thành thật xin lỗi cô LyLy ở chỗ đã không viết trả lời ngay từ hôm qua. Giữa giai đoạn hiện nay, đúng là chúng ta cũng có khá nhiều mối quan tâm khác. Cũng cám ơn thầy Thiệu đã viết khá cặn kẽ khi phân tích các tiếng “khẩu trang” và “mặt nạ.”

Một số người không thích tiếng “khẩu trang” vì đó là một từ gốc Hán, và cho rằng trong nước đã sao chép từ ấy của CS Trung Hoa (cũng như họ đã sao chép một số từ khác của người Tàu như “nhập khẩu, xử lý, đăng ký, tham quan …”). Riêng với từ này, tôi xin được … “bào chữa” cho bà con trong nước.

Để dịch ý “medical mask,” người Trung Hoa dùng từ口罩  kŏuzhào (khẩu trạo). Đôi khi họ nói rõ là 醫用口罩 yī  yòng kŏuzhào (y dụng khẩu trạo).

Chữ 罩 (trạo, cũng phát âm là “tráo”) ở bộ Võng (= lưới), có nghĩa là “che, phủ lên.”  “Y dụng khẩu trạo” “vật để che miệng dùng trong y khoa.” Với người TH,  từ ấy dùng cho ý “medical mask” rất thích hợp. Phía sau là hai đoạn về từ ấy trong  Anh Hán Từ Điển do Đại học Oxford ấn hành (= Oxford Advanced Learner’s English-Chinese Dictionary) , ấn bản năm 1989, được in lại năm 2002; và trong The Pinyin Chinese-English Dictionary (= Hán Anh Từ Điển) của Beijing Foreign Language Institute (Beijing ; Hong Kong : Commercial Press, 1983).

Chúng ta thấy từ “khẩu trang” trong nước đang dùng không phải là “sao chép của Tàu.” Công bình mà nói, “khẩu trang” cũng chưa phải một từ hoàn hảo vì mới chỉ có nghĩa “trang phục cho miệng” (không nói gì tới mũi). Nhưng dù sao, từ này đã được đưa vào Từ Điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ Học trong nước, do Gs. Hoàng Phê chủ biên (bản in năm 2003, trang 496), và đã trở nên thông dụng với bà con trong nước. Nha sĩ Cao Minh Hưng có lý khi nghĩ rằng chúng ta có thể dùng.  

Nhưng từ ấy chưa hoàn hảo (dùng chữ Hán, phạm vi chưa đủ). Thầy Thiệu cũng có lý khi muốn tìm một từ tiếng Việt thuần túy. Từ “miếng vải che mũi miệng” thầy đề nghị rất chính xác nhưng quả là hơi dài. Tôi không rõ làm ngắn hơn đôi chút như “khăn che mũi miệng” hay “khăn che miệng” đã được chưa, xin các thầy các cô cân nhắc, bàn thảo thêm. Trong tiếng Anh, cũng có chỗ gọi là “mask,” có chỗ gọi là “mouth covering.” Một vật có nhiều tên khác nhau là chuyện thường.

Trong tiếng Việt, cũng nhiều trường hợp một vật (hay con vật) có 2, 3 tên. Con hổ có khi được gọi là con cọp, con hùm, hay “ông ba mươi,” chúng ta đều hiểu cả. Con mèo cũng được gọi là con mãn hay con miu. Dùng từ “khẩu trang” đã thông dụng ở trong nước (như nha sĩ CM Hưng), hay cố làm ngắn hơn từ thầy Thiệu đề nghị (miếng vải che mũi miệng), đều là những việc làm có lý và hữu ích. Mong cô LyLy sẽ hài lòng.

Thân quý,

thb

Góp ý

On Thursday, April 9, 2020, 1:04:15 AM PDT, vntuluc@yahoo.com <vntuluc@yahoo.com> wrote:

Kính thưa quý vị Giáo sư và quý Niên trưởng,
Kính thưa GS Bích và GS Song Thuận,
Chúng em cảm ơn thầy Thiệu, nhà văn Bích Huyền, nha sĩ CM Hưng, quý niên trưởng Lân và Triều cùng 2 giáo sư Thuận và Bích đã bỏ thì giờ phân tích, hướng dẫn và chia sẻ suy nghĩ về các chữ “khẩu trang, mặt nạ”.  Chúng em cũng mong là GS TC Trí sẽ góp ý trong câu hỏi này vì GS Trí rất gần gũi với các sinh viên đại học Mỹ gốc Việt.
Với chủ trương ủng hộ “tiếng Việt trong sáng” và trong môi trường dạy Việt ngữ, chúng em xin phép sẽ dùng “khăn che” khi nói/viết văn tắt, và đầy đủ hơn: “khăn che miệng mũi” khi cần nói/viết chi tiết và chính xác hơn.  Cảm ơn GS Bích đã dẫn dắt những nguồn tự điển.  Chúng em noi theo phương thức làm việc đó và xin trình bày suy nghĩ của mình nay đã được học hỏi từ quý Giáo sư và quý Niên trưởng.  
Chúng em cũng có được quyển Tự Điển Tiếng Việt vủa Viện Ngôn Ngữ Học xuất bản, ấn bản lần thứ bảy, đợt 2, năm 2000 – cũng trang 496 có định nghĩa của “khẩu trang” như GS Bích đã trích dẫn.  Nhưng cũng trong quyển tự điển này, là những định nghĩa của “sự cố”, “liên hệ”, “giáo viên”, “động viên” v.v…. đã và đang được dùng thiếu rõ ràng và một cách nghèo nàn từ sau 1975, khiến cho chúng em rất e dè, thường chỉ tham khảo để hiểu nghĩa muốn diễn đạt trong ngôn từ và các bài viết sau 1975 – nhưng không nhất thiết dùng đến nó trong đối thoại với mọi người, nhất là với các học trò Việt ngữ.  GS Bích cũng đã trích dẫn ý nghĩa của chữ “mask” theo tự điển Hán Anh do ĐH Oxford ấn hành, “covering the face, or part of it” – hoặc ngay cả tự điển uy tín thuần Mỹ là Merriam-Webster (www.m-w.com) cũng định nghĩa tương tự như thế.
Rõ ràng chúng ta nhìn ra “khẩu trang” là thiếu chính xác, tuy nó đã được ra đời sau “sự cố” 1975 – vì ngôn ngữ vốn dĩ là “sinh” ngữ, cần/phải có thêm bớt với thời gian.  Người miền nam Việt Nam thuở trước 1975 đâu phải dùng đến khăn che miệng mũi mỗi ngày, mỗi khi ra đường như bây giờ, cho nên 2 chữ “khẩu trang” là sản phẩm của thời hậu VNCH.  Nếu phải chọn giữa: nghiêng về Hán Việt hay gốc nghĩa Hán Anh/Merriam-Webster, thì chúng em chọn Hán Anh/Merriam-Webster.  Định nghĩa “mặt nạ” trong tự điển Việt Nam không “thoáng” bằng định nghĩa “mask” của tiếng Anh (xin lỗi được suy nghĩ ngược lại với thầy Thiệu) nhưng lại rất đồng ý với thầy Thiệu để chọn dùng những chữ Việt đơn giản và rõ nghĩa hơn. Tuy nhiên “mask” được biến chế từ nhiều chất liệu khác nhau, tùy nhu cầu, và không nhất thiết là từ vải.
Tóm lại, xin thưa:-  “Chúng em bức xúc, khẩn trương liên hệ với quý giáo viên và quý học giả về những sự cố từ vựng, nhưng hiện với phong trào động viên chống đại địch, nhắc mọi người mang khẩu trang khi ra khỏi nhà sẽ đem lại nhiều phúc lợi cho bản thân và mọi người”.Thì:-  “Chúng em liên lạc với quý giáo sư và quý niên trưởng mong để tham khảo về những chữ nghĩa còn khá mới mẻ trong cộng đồng tỵ nạn, ngõ hầu cùng nhau đẩy mạnh việc mang khăn che miệng mũi để làm giảm lây lan mỗi khi cần ra khỏi nhà trong thời điểm đại dịch này.”
Nếu chúng ta có thể tiếp tục thảo luận hoặc tìm hiểu thêm để đưa đến việc cùng đồng ý dùng thống nhất trong cộng đồng tỵ nạn thì “khăn che” hoặc “khăn che mũi miệng”, hoặc một cụm chữ nào khác hay hơn, sẽ trở thành một tiếng Việt trong sáng và quen thuộc, được phổ biến thay cho “khẩu trang”.  Rất mong quý giáo sư và quý niên trưởng châm chước cho những suy nghĩ non trẻ của chúng em.
Kính mến,

LyLy

Góp ý GS Nguyễn Song Thuận

Kính thưa quý vị,

Như vậy, chúng ta có các “từ”: “khẩu trang”, “khăn che mũi miệng”, “mặt nạ y tế”… Chính tả tiếng Việt được “giàu” thêm chữ …

Tôi đồng ý với quý vị là từ ngữ “khẩu trang” chưa… toàn hảo 100%. Tuy nhiên, đây không phải là tiếng … người Tầu dùng (thay cho chữ “mask y tế”)… Vả lại, khi ta viết ” khẩu trang”, người Tầu không biết và không hiểu ta viết gì, phải không ạ? Như vậy, từ ngữ “khẩu trang” là… chữ Việt hẳn hoi… có dấu hỏi.. không giống chữ Tầu tí nào cả…

Một điều nữa, một số người đã lầm “định nghĩa” với “danh từ” rồi “ngây ngô” gọi…  “xưởng đẻ”… “người lái”… “máy bay lên thẳng”…

Ngoài ra…  “chữ Hán” mà người Tầu dùng ngày nay, “có thể” là do…  Tổ tiên ta sáng chế… và góp công sức không nhỏ để hoàn thiện… (việc này…  xin nhà biên khảo Phạm Trần Anh lên tiếng).

Mục đích của chúng ta là “Thống nhất cách viết chữ Việt” và “dùng tiếng Việt một cách trong sáng, rõ ràng”… Xin cám ơn sự đóng góp ý kiến của toàn thể quý vị.

Song Thuận  

5 QUY ƯỚC CĂN BẢN THỐNG NHẤT CÁCH VIẾT CHỮ VIỆT

Tiếng Việt, được viết thành chữ, nhờ những ký hiệu (hình vẽ hay chữ viết). Xưa, chữ Việt cổ, có thể mang hình dạng con nòng nọc (chữ khoa đẩu – nay đã thất truyền?).

Thời kỳ Bắc thuộc (từ -111 đến +938), không kể các thời kỳ giành lại được nền đôc lập trong thời gian ngắn, dân ta dùng chữ Hán, còn gọi là chữ Nho. 

Một số chữ Hán phải “biến dạng” để viết tên địa danh, tên người hay tiếng địa phương của người Việt (thời đó gọi là người Giao Chỉ, hay người An-Nam) mà chữ Hán không có. Đây có thể là nguồn gốc chữ Nôm. Sau, nhờ tinh thần độc lập dân tộc, người Việt đã sử dụng và phát triển chữ Nôm thành chữ Việt, hoàn chỉnh từ thời nhà Trần với bài thơ chữ Nôm “Đuổi Cá Sấu” của Nguyễn Thuyên (Hàn Thuyên). Thời nhà Hồ, tiếp nối nhà Trần sau nữa là nhà Nguyễn Tây Sơn, đã coi chữ Nôm là “quốc tự”.

Từ khi những vị cố đạo người Bồ-Đào-Nha, Ý và Pháp…  dùng đa số chữ cái La-Tinh tạo ra “chữ viết tiếng Việt”, ta gọi đó là chữ Quốc Ngữ. Ngày nay, chữ Quốc Ngữ được chính thức coi là chữ Việt.

Đề nghị 5 quy ước căn bản thống nhất cách viết chữ Việt

(trích sách “Đề Nghị Thống Nhất Cách Viết Chữ Quốc Ngữ”).

Quy Ước I –  Cách Phát Âm và Đánh Vần

  1. Nguyên Âm và Phụ Âm

Nguyên âm: Những chữ cái a, e, i, o, u, y và biến thể ê, ô, ơ, ư, đứng riêng một mình vẫn có nghĩa và giữ nguyên không đổi khi phát âm “tên chữ” (letter name) và “âm chữ” (sound name), gọi chung và quen thuộc là nguyên âm (vowel),ngoại trừ ă và â, đứng riêng một mình, không phátâm được và không có nghĩa.

Phụ âm: Những chữ cái  như b, c, d, đ, g, h, k, l, m, n, p, q, r, s, t, v, x, ch, gh, gi, kh, ng, ngh, nh, ph, qu, th, tr, đứng riêng một mình không phát âm được và không có nghĩa, phải ghép với nguyên âm mới có nghĩa (phụ thuộc vào nguyên âm), gọi chung và quen thuộc là phụ âm (consonant).

1a- Cách phát âm những nguyên âm: A/a (a), Ă/ă (á)*, Â/â* (ớ), E/e (e), Ê/ê (ê), I/i (i – i ngắn), O/o (o). Ô/ô (ô), Ơ/ơ (ơ), U/u (u), Ư/ư (ư). Y/y (y-gờ-rếch – y dài)

(* ă và â đứng một mình không phát âm được)

1b- Cách phát âm những phụ âm đơn và phụ âm ghép: Phụ âm đơn và phụ âm ghép đứng riêng một mình, không phát âm được, phải ghép với nguyên âm mới phát âm được. Theo Trần Trọng Kim (Quốc Văn Giáo Khoa Thư – Lớp Đồng Ấu), phát âm “tên chữ” (kiểu cũ) và phát âm “âm chữ” (kiểu mới), theo thứ tự như sau:

B/b (bê – bơ), C/c (xê – cơ), D/d  (dê – dơ), Đ/đ (đê – đơ), G/g (giê – gơ), H/h (hát – hơ), K/k (ca – cơ), L/l (en – lơ), M/m (em – mơ), N/n (en – nơ), P/p (pê – pơ), Q/q (cu – cơ), R/r (e-rờ – rơ), S/s (ét-s – sơ), T/t (tê – tơ), V/v (vê – vơ), X/x (ích-xì – xơ);  CH/ch (xê-hát – chơ), GH/gh (giê-hát – gơ), GI/gi (giê-i – giơ), KH/kh (ca -hát – khơ), NG/ng (en- giê – ngơ), NGH/ngh (en-giê-hát – ngơ), NH/nh (en-hát – nhơ), PH/ph (pê-hát – phơ), QU/qu (q-u – quơ), TH/th (tê-hát – thơ), TR/tr (tê-e-rờ – trơ).

Đối với các chữ “ô, ơ”, khi phát âm thường được thêm vào “dấu huyền”: “ô” thành “ồ”, “ơ” thành “ờ”. Vì thế, âm chữ “cơ, mơ, lơ” thường được phát âm là “cờ, mờ, lờ”.

1c- Cách đánh vần:

  • Đánh vần theo kiểu cũ: Thí dụ chữ “chân” (xê-hát-ớ-chớ-en-nờ-chân = chân)
  • Đánh vần theo kiểu mới: chờ-ân-chân = chân.

Ghi chú:

  • Cách đánh vần theo kiểu mới thích hợp hơn đối với người lớn hay người ngoại quốc học tiếng Việt.

Trước các nguyên âm “i, e, ê, y”, chữ “c” đổi thành “k” và “ng” đổi thành “ngh”. Thí dụ: Viết “ki, ke, kê, ky” (không viết “ci, ce, cê, cy”), “nghi, nghe, nghê” (không viết “ngi, nge, ngê”). Chữ  “g” đứng trước “e, ê” đổi thành “gh”. Thí dụ: “ghe, ghê” (không viết “ge, gê”)

Chú ý:  Những chữ cái phụ âm dùng để viết tắt  phải đọc bằng “tên chữ”, không đọc bằng “âm chữ”. Thí dụ  hãng GMC đọc là “giê-em-xê” (tên chữ), không đọc “gờ, mờ, cờ” (âm chữ).

Bảng Chữ Cái (the Alphabets)*

Chữ Việt thường dùng, có tổng cộng 40 chữ cái và chữ cái ghép:

  • 6 chữ cái chính (vowel letters) đứng nguyên một mình vẫn có nghĩa, gọi chung và quen thuộc là nguyên âm (vowel)  (1) a, (2) e, (3) i, (4) o, (5) u, và (6) y
  • 6 chữ cái chính biến thể (biến âm của nguyên âm) (1) ă, (2) â, (3) ê, (4) ô, (5) ơ, và (6) ư
  • 17 chữ cái phụ (consonants) (1) b, (2) c, (3) d, (4) đ, (5) g, (6) h, (7) k, (8) l, (9) m, (10) n, (11) p, (12) q, (13) r, (14) s, (15) t, (16) v, và (17) x
  • 10 chữ cái phụ ghép đôi (10 digraphs) (1) ch, (2) gh, (3) gi, (4) kh, (5) ng, (6) nh, (7) ph, (8) qu, (9) th, và (10) tr

1 chữ cái phụ ghép ba (one trigraph): (1) ngh

Tổng cộng là 40 Chữ Cái:

 (1) a, (2) ă, (3) â, (4) b, (5) c, (6) ch, (7) d, (8) đ, (9) e, (10) ê, (11) g, (12) gi, (13) gh, (14) h, (15) i, (16) k, (17) kh, (18) l, (19) m, (20) n, (21) ng, (22) ngh, (23) nh, (24) o, 25) ô, (26) ơ, (27) p, (28) ph, (29) q, (30) qu,  (31) r, (32) s, (33) t, (34) th, (35) tr, (36) u, (37) ư, (38) v, (39) x, và (40) y

  1. Các Dấu Tiếng Việt

Tiếng Việt sử dụng 3 loại dấu: dấu câu, dấu giọng, và dấu chữ.

A – Dấu câu thường dùng

1- Dấu chấm (.)  (P. point, A. period, dot), được đặt ở cuối câu để chấm dứt câu viết đã đủ nghĩa, tạm gọi là “chấm ngắt câu” (P. point, A. full stop/period). Nếu kết thúc cả bài văn ta gọi là chấm hết  (P. point final, A. full stop, the end …). Dấu chấm cũng được dùng trong toán học và trong Internet.

2- Dấu phảy, phết  (,) (P. virgule, A. comma): Dùng để ngắt câu, tạo ra những đoạn nghỉ ngắn trong một câu dài gồm nhiều mệnh đề, hoặc được dùng trong một danh sách liệt kê nhiều việc, sự việc, hay món hàng. Thí dụ: Anh ấy nói được tiếng Việt, tiếng Nhật, tiếng Pháp và tiếng Anh. 

Ghi chú: Dấu phảy (a không có dấu mũ), được ghi và giải nghĩa trong các Tự Điển của Huỳnh Tịnh Của, Lê Văn Đức, Nguyễn Như Ý… nhằm phân biệt với “phẩy” (a có dấu mũ), có nghĩa là “phe phẩy, phẩy bụi”. Ta thường viết quen là “phẩy” (a có dấu mũ) cho mọi trường hợp.

3- Dấu chấm phảy (;) (P. point et virgule, A. semicolon):  Dùng để ngắt câu (và phân biệt hai thứ loại khác nhau) hoặcđể liệt kê.  Thí dụ: Trong tủ lạnh có thịt bò, thịt heo, thịt gà; rau đủ loại sà lách, bắp cải, rau muống; trái cây tươi như táo, nho, cam; các loại nước chanh, nước táo, nước nho ép. Thật là tiên lợi.

Dấu chấm phảy cũng dùng để thay thế các “từ nối” (liên từ) như: và, vì, bởi vì, trừ phi, trong khi. Thí dụ: Sáng nay tôi đi bộ; (trong khi) tôi thích bơi lội ở hồ bơi gần nhà. Sau dấu chấm phảy không viết hoa (ngoại trừ là danh từ riêng).  Thí dụ: Tôi ra hồ bơi để tắm; thông cáo cho biết khu hồ bơi đóng cửa để sửa chữa.

Khi đọc, gặp dấu chấm phảy ngừng lâu hơn đối với dấu phảy, nhưng ngắn hơn đối với dấu chấm.

4- Dấu hai chấm (:) (P. deux points, A. colon): Đặt sau các từ “thí dụ:”, “như:”, “như sau:” để đưa ra một thí dụ, để giải thích, để trình bày, để kê khai, để trích dẫn một lời nói trực tiếp hay gián tiếp.

Thí dụ: Di chúc của vua Trần Nhân Tông đã viết như sau: “Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác.”

a) Dấu “hai chấm” được dùng để giới thiệu một bản kê khai hay bản liệt kê. Thí dụ: Tiệm sách Khai Trí chuyên bán những tác phẩm về: nghệ thuật, kiến trúc, hoạ đồ.

(Nếu không phải bản kê khai hay liệt kê, không dùng dấu hai chấm). Thí dụ: Tiệm sách Khai Trí có đủ các tác phẩm nghệ thuật, kiến trúc, hoạ đồ. Trong trường hợp này, chữ đầu tiên sau dấu hai chấm của từ “Thí dụ”, hay “Ví dụ” sẽ viết hoa vì là chữ đầu của một câu mới. Chữ cái đầu tiên sau dấu hai chấm thuộc bản kê khai hay liệt kê, không viết hoa.

b) Dấu “hai chấm” được đặt giữa hai mệnh đề độc lập, khi mệnh đề sau giải thích ý nghĩa mệnh đề trước (giống như trường hợp dấu chấm phảy. Không viết hoa từ ngữ theo sau dấu hai chấm).

Thí dụ: Tôi viết Tiếng Anh thường sai chính tả: tôi không có thì giờ học vì còn phải cày 2 “dóp” để có tiền nuôi vợ con.

c)Dấu”hai chấm” còn được dùng để nhấn mạnh, đặt trước một từ ngắn ở cuối câu.

Thí dụ: Sau nhiều phiên họp tranh cãi, quan toà phán: có tội! (Cách viết này thường thấy trong văn phạm tiếng Anh).

Ngoài ba trường hợp sử dụng dấu “hai chấm” kể trên, dấu này còn được dùng để chỉ giờ phút (2:30 PM), số chia (9:3=3), dùng trong thư từ giao dịch (Kính gửi: Quý Hội Đoàn, Đoàn Thể).

Ghi chú: Sau dấu hai chấm không viết hoa, ngoại trừ là một câu viết mới trọn vẹn, một câu trích dẫn, một thành ngữ, hay ca dao tục ngữ.

5- Dấu chấm hỏi (?) (P. point d’interrogation, A. question mark). Dấu chấm hỏi được nhiều quốc gia sử dụng để đặt câu hỏi.

a) Dấu chấm hỏi đặt ở cuối câu hỏi trực tiếp.  Thí dụ: Anh đi đâu đó? Cái kiếng để trên bàn đâu rồi?

b) Không dùng dấu chấm hỏi, trong câu hỏi gián tiếp. Thí dụ: Tôi hỏi bạn xem anh ta có muốn đi ăn tiệm với chúng tôi vào chiều nay.

Trong văn phạm, ta thường nói dấu chấm hỏi được dùng ở thể nghi vấn. Trên đây chỉ là cách sử dụng dấu chấm hỏi căn bản và giản dị trong văn phạm tiếng Việt.

6- Dấu chấm than (!)  (P. point d’exclamation, A. exclamation mark) dùng để diễn tả cảm xúc mạnh, sự ngạc nhiên, sợ hãi hoặc sự vui, buồn. Dấu chấm than cũng dùng bày tỏ sự van xin cầu khẩn, mệnh lệnh hay khuyến khích, khuyên can. Dấu chấm than thường đặt ở cuối câu.

Thí dụ:

– Bớ người ta! Cứu tôi với!

– Ô! Anh ấy về rồi! Anh ấy thoát hiểm rồi!

– Ôi! Đẹp làm sao cảnh núi rừng hùng vĩ!

– Đừng đến sòng bài và ham mê cờ bạc! Luôn nghĩ đến câu:

“Cờ bạc là bác thằng Bần,

Cửa nhà bán hết tra chân vào cùm!”

7- Dấu ngoặc ( ( ) ) (P. parenthèse,  A. round brackets) dùng để cho thêm thông tin hay thí dụ nhằm giải thích hoặc làm rõ nghĩa của từ ngữ hay nhóm chữ đứng trước.

Thí dụ: Tôi tới Ba-Lê (thủ đô Pháp Quốc) và ở đó ba tuần.

8- Dấu ngoặc kép ( ” ” ) (P. guillemets, A. quotation marks)  dùng để phát biểu lời nói trực tiếp hoặc trích dẫn lời một danh nhân hay ai đó trong dấu ngoặc kép.

Thí dụ: Nàng nói: “Em yêu anh.”

9- Dấu gạch ngang ( – ) (P. A. dash): Trong văn phạm Việt, thường đặt dấu gạch ngang ở đầu dòng khi viết văn đối thoại (thay cho tên người nói). Thể văn này, theo văn phạm Anh,  thường dùng dấu ngoặc kép.

Thí dụ: Lan và Tâm thủ thỉ:

  • Anh đi xa, em nhớ lắm!
  • Anh cũng nhớ em da diết…

Dấu gạch ngang cũng dùng chen vào giữa câu văn, nhằm mục đích giải thích hay nói thêm về điều gì (hoặc tách ra hai mệnh đề). Thí dụ: Du lịch tới các nước Âu Châu – Pháp, Bỉ hay Anh – chúng tôi đều ở khách sạn 3 sao trở lên.  (Xem thêm quy ước 5-2).

10- Dấu gạch nối ( – ) (P. trait d’union,  A. hyphen) dùng để nối hai từ, thường là từ đôi hay từ ghép. Ngày nay có khuynh hướng bỏ gạch nối này (có lẽ để giản dị hoá cách viết). Dấu gạch nối vẫn cần và nên dùng khi phiên âm chữ ngoại quốc. Thí dụ: va-li (P. valise),  sơ-mi (P. chemise), sà-lách(P. salade).

Ghi chú: Từ ngữ “sà-lách”, nguồn gốc từ  tiếng Pháp “salade”, là món rau sống trộn dầu dấm,  thường viết là “xà-lách”. Để viết thống nhất chính tả tiếng Việt khi phiên âm chữ ngoại quốc, ta nên căn cứ vào chữ viết nguyên thuỷ.  (Xem thêm Quy ước 5-2).

11- Dấu gạch chéo (P. A. Oblique/slash): dùng để ngăn cách hai chữ có cùng nghĩa và cách sử dụng như nhau (lựa chọn tuỳ  ý).   Thí dụ: Con lợn/heo ăn ngô/bắp.

12- Dấu chấm lửng (… ) (P. A. Ellipsis): Dùng để thay thế một từ hay một câu còn thiếu trong câu văn, hoặc một lời nói hay một ngụ ý mà người viết không muốn nêu lên, cốt ý để người đọc suy đoán.

Thí dụ:  Tôi chống lại những hình thức xâm lăng, nhất là xâm lăng để đồng hoá… Đây là một hành động kém văn minh nhất thời nay.

Chú ý: Dấu chấm lửng bắt đầu là dấu chấm viết sát với chữ cái cuối cùng của câu trước và để một khoảng cách (1 space) trước khi bắt đầu câu viết tiếp theo.

Ngoài 12 dấu chấm câu thường gặp trong cách viết văn của người Việt, còn một số những dấu câu khác như: “dấu hoa thị” (*)  (asterisk) dùng để ghi chú, chú thích; dấu “và” (&) (ampersand)  dùng thay chữ “và”; dấu ngoặc vuông ( [ ] ) (square brackets) để  “cung cấp thêm một số thông tin phụ cho đoạn trước đó” hoặc bọc ngoài dấu ngoặc đơn; dấu ngoặc nhọn ({ }) (braces) dùng “để nối hai hay nhiều từ ngữ hoặc dòng thành đôi”.

 B- Dấu Giọng và Dấu Chữ

1- Dấu giọng: Theo Trần Trọng Kim, tiếng Việt có 6 giọng, được ký hiệu bằng 5 dấu: dấu sắc (‘), dấu huyền (`), dấu hỏi (?), dấu ngã (~), dấu nặng (.) và không dấu (dấu huyền và không dấu được coi là thanh bằng, các dấu còn lại là thanh trắc).

Mỗi dấu giọng được đặt trên nguyên âm, sẽ làm cho âm thanh của từ ngữ được tạo thành khi phát âm, không giống âm thanh của từ khác. Thí dụ: đây và đấy (đây là ở đây, ở trước mắt. Đấy là ở đằng kia, ở phía xa).

2- Dấu chữ: Ngoài 5 dấu (6 giọng), chữ Việt còn 3 dấu chữ: dấu khăn (dấu á) ă; dấu mũ (â, ê, ô) và dấu móc (ơ, ư).

Thí dụ: Chữ “đày” (không có dấu mũ) nghĩa là đày đoạ, tù đày, tội lưu đày, đày tớ, đọc lên hơi khác với chữ “đầy” (có dấu mũ) nghĩa là bát nước đầy, đầy bụng, đầy ly, nước đầy sông.  (KTTĐ, LVĐ, QATV).

Dấu chữ chỉ đặt trên các nguyên âm (ă, â, ê, ô, ơ, ư), còn gọi là biến âm của nguyên âm. 

Phát âm mỗi nguyên âm có dấu chữ, cũng khác với nguyên âm không có dấu chữ. Thí dụ:âm o khác với âm ô hay ơ.

Có tổng cộng 3 dấu chữ (sáu biến âm của nguyên âm: ă, â, ê, ô, ơ và ư).

Kết hợp 3 dấu chữ (6 biến âm của nguyên âm) và 5 dấu giọng (5 dấu, 6 giọng) với các chữ cái Quốc Ngữ, tạo ra một hệ thống chữ Việt vô cùng phong phú về âm điệu.  

3- Cách đánh dấu giọng:

Hiện nay Cộng Đồng Người Việt tại Hải Ngoại sử dụng hai cách đánh dấu chữ Quốc Ngữ:

– Cách đánh dấu theo mỹ thuật (kiểu cũ).

– Cách đánh dấu theo ngữ âm học (kiểu mới).

Cách đánh dấu theo kiểu cũ hay theo kiểu mới, đều có ưu và khuyết điểm.

Quy Ước II –  Cách Đánh Dấu (Bỏ Dấu) Chữ Việt

  1. Dấu giọng chỉ đánh trênnguyên âm.

2-  Trường hợp có 2 nguyên âm đứng cạnh nhau

Ưu tiên 1: đánh dấu trên biến âm của nguyên âm (nguyên âm có dấu chữ: ă, â, ê, ô, ơ, ư). Thí dụ: Ông giẳng ông giăng, ông giằng búi tóc (đồng dao); dưa hấu, phá  lấu, tấu hài, thành nội Huế, huề, huệ, đội gạo, ơi ới, ngửi  hoa, tức tưởi, hội trưởng.

Ưu tiên 2: đánh dấu trên nguyên âm chủ (các vần thường dùng oa, oe, uy, trong đó a, e, y là nguyên âm chủ, o, u chỉ là bán âm). Đánh dấu trên a, e, y. Thí dụ: hoá, hoà, hoả, hoạ, hoè, hoẹ, huý, huỷ, thuý, thuỷ, thuỵ, quý, quỳ, quỷ, quỹ, quỵ.

Chú  ý: Những  phụ  âm kép “gi” và “qu” trong đó “i” gắn liền với “g” và “u” gắn liền với “q”, không còn giữ  vai trò  “nguyên âm” nữa, nên không đánh dấu trên “i” hay “u”. Thí dụ: giá, già, giả, giã, giạ; quý, quỳ, quỷ, quỹ, quỵ.

3- Trường hợp có 3 nguyên âm đứng cạnh nhau, đánh dấu trên nguyên âm đứng giữa. Thí dụ:  Phiền toái, năm ngoái.

Quy Ước III – Cách Viết Hoa và Phiên Âm Tên Người

3aViết hoa theo quy tắc trong văn phạm Mỹ (capitalization) những tên riêng như tên người, quốc gia, đường phố, hội đoàn, cơ sở, tên ngày thứ tự trong tuần lễ, ngày tháng năm… Thí dụ:Lý Thường Kiệt; nước Mỹ; đường Đinh Tiên Hoàng; Hội Ái Hữu Cựu Nữ Sinh Trưng Vương Nam California; hãng Toyota; Thứ Hai, Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Sáu, Thứ Bảy, Chủ Nhật; Tháng Giêng, Tháng Hai,ThángBa… Tháng Mười Một hay Tháng Một, Tháng Mười Hai hay Tháng Chạp; năm Nhâm Thìn, năm Quý Tỵ…

3b-  Phiên âm tên người:

Viết tên họ người Tầu: Tên họ người Tầu đôi khi lẫn lộn với tên họ người Việt, do đó nên dùng phương pháp Pinyin (bính âm) để phiên âm tên người Tầu bằng chữ cái La Tinh trước, sau đó viết tên người Tầu theo phiên âm Hán Việt trong dấu ngoặc đơn. Thí dụ: Jiang Zemin (Giang Trạch Dân).

Viết tên người, tên quốc gia, tên tỉnh và tên nước ngoài: Có thể phiên âm theo tiếng Việt, nhưng viết tên gốc trong dấu ngoặc đơn. Thí dụ: Cu-ba (Cuba). Trường hợp đã quen với cách phiên âm theo gốc tiếng Hán Việt, nên giữ nguyên và cũng viết nguyên văn tên người, tên quốc gia hay tên tỉnh nước ngoài trong ngoặc đơn. Thí dụ: Nã-Phá-Luân (Napoléon), Pháp (France), Ba-Lê (Paris).

Quy Ước IV – Cách Viết Y Dài và I Ngắn

Đây là cách viết gây nhiều tranh cãi nhất kể từ khi bộ Giáo Dục ở Việt Nam ra quy định thay thế y dài bằng i ngắn trong cách viết chữ Quốc Ngữ. Chúng tôi đồng thuận với những nhà giáo tại Việt Nam trước 1975 và tại hải ngoại sau 1975 về 3 quy ước sau:

4a- Viết y dài khi đứng một mình và có nguồn gốc Hán Việt:y phục, y tế.

4b- Viết y dài đối với tên riêng (ngoại trừ tên người đã được viết bằng i ngắn): Lý Thường Kiệt, nước Mỹ, Mỹ Tho.

4c- Viết y dài những từ ngữ gốc Hán Việt sau các chữH, M, L, K, T, Qu.  (Mẹo ghi nhớ theo một trường dạy Việt Ngữ tại Texas: Học Mau Lên Kẻo Ta Quên). Thí dụ: Hy vọng, mỹ thuật, lý thuyết, kỷ yếu, tỷ lệ, quý vị.

(Những từ ngữ bé tí, tỉ mỉ, đi ị, í ới …viết i ngắn vì không có gốc Hán Việt).

Quy Ước V – Vị Trí Các Dấu Câu

1- Vị trí các dấu câu như dấu ngoặc đơn, ngoặc kép, chấm hỏi, chấm than, hai chấm, chấm phẩy, phẩy, chấm lửng… đều viết sát kế bên chữ cuối của câu (không có khoảng cách).  Đây chỉ là cách viết chữ theo văn phạm Mỹ. Thí dụ: (1789), “Xuân Quý Tỵ”, Anh là ai?  Than ôi! Tôi không ngờ…

2- Phân biệt cách dùng dấu gạch giữa, dấu gạch ngang (dash) và dấu gạch nối (hyphen):

Phân biệt các dấu gạch ngang giữa (-), dấu gạch ngang dưới (_),  còn gọi là gạch dưới hay gạch đít (u) và dấu gạch nối (-).

-Theo định nghĩa, dấu gạch ngang dài hơn dấu gạch nối. Tuy nhiên, trên bàn phím đánh máy điện toán (keyboard), hai dấu này là một (đối với một số máy).

– Dấu gạch ngangở đầu dòng dùng trong thể văn kể truyện.

Dấu gạch ngang ở giữa dòng dùng để chú thích thêm cho rõ nghĩa hay rõ nơi chốn của mệnh đề trước nó. Thí dụ: Trường Cao Học Chính Trị Kinh Doanh Sài Gòn – Viện Đại Học Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt – đã đào tạo được nhiều chuyên viên có bằng Cao học ở Việt Nam.

– Dấu gạch ngang dưới ít dùng.

Thí dụ: nguyen_038@yahoo.com.

Dấu gạch dưới dùng để nhấn mạnh (từ ngữ hoặc câu văn).

Thí dụ: Sài Gòn trước kia là thủ đô của Việt Nam Cộng Hoà.

Ngày nay ít dùng (hoặc không dùng) dấu gạch nối đối với  những chữ ghép (tiếng Việt và Hán Việt), nhưng lại thường dùng cho các chữ phiên âm tiếng nước ngoài.

Thí dụ: a-ti-sô, a-xít, a-men, áo măng-tô…

3- Đơn vị số: Theo cách viết trong văn phạm Mỹ. Thí dụ: 1,000.00; 10,000.00.

4Ngày tháng: Viết theo văn phạm Mỹ hoặc theo ta (âm lịch). Thí dụ: 7/22/2012 hoặc 7-22-2012 (tháng viết trước – ngày – năm). Theo ta: ngày 22 tháng 7 năm 2012.

5-Phân biệt dấu hỏi (?), ngã (~):

– Đối với chữ ghép, một chữ mang dấu huyền hay dấu nặng, chữ kia mang dấu ngã (huyền, nặng = ngã). Thí dụ: dòng dõi, lộng lẫy, ầm ĩ, lặng lẽ.  Ngoại lệ:hoàn hảo, mòn mỏi, học hỏi, phản bội.

– Đối với chữ ghép, một chữ không dấu (ngang) hay dấu sắc, chữ kia mang dấu hỏi (ngang, sắc = hỏi). Thí dụ: liêm sỉ, ám ảnh, dai dẳng, bóng bẩy.  Ngoại lệ: Than vãn, quá vãng, ve vãn, thoáng đãng.

Mẹo để nhớ (theo tài liệu trên Internet):

“Cô Huyền mang nặng,ngã đau, cậu Ngangsắcmắc hỏi sao thế này?” (sắc mắc có nghĩa là hay soi mói, bắt bẻ – NNY).

Những cách phân biệt kể trên còn nhiều ngoại lệ, nên chưa thể gọi là quy tắc hay luật lệ. Điều cốt yếu để viết đúng dấu hỏi, ngã  là học ngữ vựngtập phát âm theo đúng dấu của ngữ vựng (Xem chương III)

6Phân biệt các vần ay, ây, au, âu:

– Phân biệt “ay” (không có dấu mũ) và “ây” (có dấu mũ). Thí dụ: đi cày – con cầy; số bảy – đòn bẩy;  trình bày – một bầy (heo),  thày lay – thầy giáo; lông mày – chúng mầy (tụi bây), màu (màu áo, màu bột, màu cỏ úa, màu da,  màu mè, màu mỡ, màu sắc) – mầu (mầu nhiệm, thị mầu). (Xem Chương V)

Chú ý:

– Một số từ ngữ thường viết sai dấu hỏi, ngã: đã (việc đã qua) – đả (đả đảo),  nghĩ (suy nghĩ) – nghỉ (nghỉ ngơi), sẽ (mai sẽ đi) – sẻ (con chim sẻ), cũng (cũng vậy) – củng (đồ đạc lủng củng), vẫn (vẫn thế) – vẩn (vẩn đục), dẫu (dẫu sao đi nữa) – dẩu  (dẩu mỏ chìa môi ra), mãi (mãi mãi) – mải (mê mải), hỗ (hỗ trợ) – hổ (xấu hổ, con hổ), quỹ (ngân quỹ) –quỷ (ma quỷ)  …

– Lẫn lộn chữ “c” với chữ “t”. Thí dụ:lời bạt (lời tác giả viết thêm về ý nghĩa của nội dung, thường ở cuối sách), viết thành lời bạc, rừng sác thành rừng sát, vãng lai viết thành vãn lai… (Xem chương IX – Tập II)

7Phân biệt những từ “có g” hay “không có g” ở tận cùng.Thí dụ: luôn (luôn luôn, luôn miệng, luôn thể, luôn tiện) luông tuồng (bừa bãi); bàn hoàn (nghĩ quanh quẩn) và bàng hoàng (tâm hồn bất định, chưa kịp ổn định). (Xem chương VIII – Tập II)